24/10/10

DẤU CHÂN 4: HANG ĐÁ BÊLEM


Thầy kính mến.

 Mẹ con kể chuyện cho con nghe. Con được sanh ra trong căn nhà thân thương của bố mẹ. Bác gái của con là bà mụ đến đỡ đẻ cho mẹ con. Bác săn sóc mẹ con, trìu mến như một người chị hiền. Bố con ngồi chồm hổm, trầm tư và ngong ngóng chờ bà đỡ sai vặt. Hai chị của con cũng trần tư và ngong ngóng chờ lệnh của bố con. Nghèo lắm, nhưng ấm cúng và thân thương quá chừng! Con khóc oa oa. Chẳng biết gì. Nhưng bây giờ mới thấy thế là sướng.


Bây giờ Luca kể cho con nghe về ngày sanh của Thầy. Thầy khóc chào đời trong hang bò lừa hôi hám, cách xa mái nhà thân thương Nadarét những một trăm năm mươi hai cây số. Không bác sĩ, không y tá, không một cô mụ vườn, không bà nội, không bà ngoại, không một người thân thương.

Lúc ấy Thầy còn bé tí, nên chưa biết gì. Chưa biết gì nên không thấy khổ. mà có biết thì cũng chẳng thấy khổ,
vì có Mẹ. Nhưng con thấy tội nghiệp cho Mẹ. Mới mười mấy tuổi đời, mà phải sanh con đầu lòng trong cảnh túng thiếu và cô đơn đến tận cùng như thế. Nếu con là Mẹ, con sẽ gào lên:

"Bớ ông sứ thận Gáprien ơi! Ông bảo:
Con tôi sẽ ngồi trên ngai vua Đavít,
Sẽ cai trị nhà Giacóp cho đến muôn đời.
Vậy mà bây giờ
con tôi phải nằm trong máng cỏ
hèn hạ còn hơn con thú...
Tôi khổ bao nhiêu cũng được.
Nhưng còn con tôi... Hu... Hu... Con ơi là con..."

Nhưng Mẹ không phải là người phàm như con. Người không la, không khóc, không uất hận. Người trầm tư. Có lẽ Người cũng không ngờ sự thể là như thế. Nhưng Mẹ khôn lắm. Mẹ cứ ghi khắc trong lòng để suy đi nghĩ lại xem bàn tay Chúa quan phòng sẽ dìu dắt Mẹ đi tới đâu. Mẹ giống như con gà con có linh hồn biết chui vào dưới cánh gà mẹ, để trốn dông gió và để thưởng thức hơi ấm của mẹ gà. Còn bé mà đã khôn thế. Hoan hô Mẹ, Mẹ tuyệt vời!

Con lại thương cảm Thánh Cả Giuse. Là một người đàn ông, là chồng của một người đàn bà vĩ đại, mà không tìm được một chỗ ở xứng đáng cho Đấng Cứu Thế ra chào đời. Mặc cảm đầy mình. Ân hận vô cùng. Chuyện lớn không làm được thì chớ, chuyện nhỏ cũng không làm được, vì không được làm. Ấy là bộ đồ dính máu của Mẹ cũng bị mắc uế theo luật của Môsê. Ai muốn giặt dùm cũng không dám. Ai dám thì cũng mắc uế. Mắc uế tức là có tội. Và Thánh Giuse đã không dám... Mặc cảm vô dụng lại tăng lên. Tội nghiệp quá chừng!

Càng tội nghiệp Thánh Cả Giuse chừng nào, con lại càng thấy bất bình với Luật Môsê chừng nấy. Sanh con có chảy máu là chuyện bình thường, tại sao lại bảo là mắc uế. Luật ấy làm khổ Thánh Cả Giuse và làm nhục Mẹ của con. Con hận luật Môsê. Con ghét luật Môsê. Luật kỳ cục như thế mà suốt 13 thế kỷ chẳng ai dám hó hé phê bình. Lại còn gọi nó là thánh. Ngàn người như một. Vạn người như một. Phải chờ mãi đến thời Công Vụ Tông Đồ mới thấy có một người dám nói huỵch toẹt ra. Người ấy là Thánh Phêrô.

Tại Công Đồng Giêrusalem, để trả lời cho bọn bảo thủ đòi bắt Kitô hữu phải giữ luật Môsê, Thánh Phêrô đã thẳng thừng tuyên bố: "Tại sao anh em lại thử thách Thiên Chúa mà quàng vào cổ các môn đệ cái ách mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta vác không nổi" (Cv 15,10). Không biết vì tư tưởng của Thánh Phêrô bạo quá, hay mạnh quá, mà "cả hội trường nìn khe" (Cv 15,12). May quá, nếu Thượng Tế mà biết chuyện này, thì Thánh Phêrô bị vạ tuyệt thông rồi.


Thầy kính mến.

Có người hỏi con rằng: gia đình thánh của Thầy tạm trú ở hang đá Bêlem bao lâu? Khi ba hiền sĩ phương Đông đến gặp Thầy, thì Thầy đang ở đâu? Con chẳng biết Thầy tạm trú ở hang đá bao lâu. Nhưng con xác tín rằng ngày thứ tám là ngày Thầy được đặt tên và cắt bì, thì Thầy đã có mặt ở nhà Dì Êlidabét rồi. Chính Dương Dacaria cắt bì cho Thầy. Gia đình Thầy cứ ở luôn đó cho tới ngày thứ 40 thì lên Đền Thờ Giêrusalem để Thầy được dâng cho Chúa Giavê theo luật của Môsê. Còn Mẹ thì được thanh tẩy, vì đã mắc uế khi sanh con. (Lại mắc uế nữa rồi! Lại lăng nhục Mẹ nữa rồi!).

Luca kể rằng: "Sau khi thi hành mọi việc theo Luật Chúa, thì hai ông bà trở về Nadarét, xứ Galilê" (Lc 2,39). Lời kể của Luca, chính là hồi ức của Mẹ. Hơn một tháng trời ở Ainkarim, Mẹ và Dì lại được sống những ngày hạnh phúc vô cùng. Bây giờ chia tay. Ngậm ngùi khôn xiết.

Câu chuyện Luca chỉ có thế. Không hề nói đến chuyện ba Hiền Sĩ từ Đông Phương đến. Không đá động gì đến việc Hêrôđê tàn sát các hài nhi ở Bêlem. Cũng không đề cập đến chuyện Thầy trốn sang Aicập. Nếu bấy nhiêu chuyện là có thật, thì tất cả đều là những kỷ niệm in hằn trên màn ký ức của Mẹ. Mẹ sẽ kể cho Luca và Luca không thể bỏ qua.

Con hỏi nhiều giáo sư Thánh  Kinh về vấn đề này, thì các vị ấy đều trả lời một cách dè dặt rằng: "Mátthêu viết Tin Mừng với tư cách là một nhà thần học, hơn là một sử gia". Matthêu viết Tin Mừng cho độc giả Do Thái. Thêm hay bớt một chút vào câu chuyện lịch sử, ông không lấy làm điều hệ trọng, miễn là độc giả của ông tin Thầy là Đấng Mêsia, mà Thánh Kinh đã tiên báo.

Quả thật Mátthêu kể nhiều chuyện không giống với Luca và Máccô:
- Máccô và Luca bảo có một người bị quỷ ám ở Ghêraxa, thì Mátthêu bảo là có hai (Lc 8,27; Mc 5,2; Mt 8,28)
- Luca và Máccô bảo rằng khi ông Giairô đến gặp Thầy thì con gái ông sắp chết. Còn Mátthêu thì bảo là em bé vừa mới chết (Lc 8,42; Mc5,23; Mt 9,18)
- Luca bảo rằng có hai tên đạo tặc cùng bị đóng đinh với Thầy, thì có một đứa ngạo Thầy, còn đứa kia thì bệnh. Trong khi Mátthêu lại bảo rằng cả hai tên đều lăng nhục Thầy (Lc 23,39-43; Mt 27,44)
- Trình thuật ngôi sao lạ xuất hiện và dẫn ba Đạo Sĩ đến tôn thờ Thầy, Mátthêu đã sử dụng lối văn rất thần thoại. Ngôi sao cách trái đất hằng tỉ cây số mà nó lại dẫn đường y như một ngọn đèn cách xa trái đất vài trăm mét!

Con xin thưa riêng với Thầy rằng con bám sát trình thuật của Luca. Còn trình thuật Mátthêu nói về ba Hiền Sĩ, Hêrôđê tàn sát hài nhi ở Bêlem và Thầy trốn qua Aicập, thì con chỉ coi như chuyện hư cấu rất đẹp, rất vui và rất hữu ích cho độc giả Do Thái. Con thích nhưng con không suy niệm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét