31/3/11

Tội Lỗi - CHƯƠNG II: TỘI NGUYÊN TỔ

Một tội điển hình: tội của Ađam và Eva

Tôi không có tham vọng giới thiệu một công trình nghiên cứu tội nguyên tổ một cách chuyên sâu, mà chỉ muốn giúp các bạn, nhờ một số kỹ thuật của khoa phân tâm, đọc lại tội nói ở sách Sáng thế đoạn 3 (có thể coi đó là một tội điển hình) với một cái nhìn mới. Hy vọng nhờ đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tội ‘bắt đầu’ từ đâu (hay cám dỗ là gì), tội hệ tại ở chỗ nào và hậu quả của tội. Để kết thúc, tôi sẽ nêu ra vắn tắt vài điểm làm mốc để suy nghĩ về ‘tội thụ sinh’ (péché origéné) nghĩa là tình trạng của mọi người khi sinh ra , phân biệt với ‘tội tác sinh’ (péché originant) là tội của tổ tiên nhân loại.

I. VÀI LƯU Ý ĐẦU
VỀ St
3
+ Lưu ý thứ nhất.
Hành vi của tổ tiên nhân loại, mô tả ở St 3 không được gọi là sự ‘sa ngã’. Cần lưu ý điểm này, vì nói ‘sa ngã’ tự nhiên ta nghĩ ngay tới việc rơi xuống từ một tình trạng đặc biệt, từ tình trạng ở ‘trên mức tự nhiên’ xuống tình trạng thấp hơn là tình trạng tự nhiên thuần tuý. Thế nhưng, lát nữa ta thấy nhìn như thế là sai. Vì vậy, tốt hơn nên gọi bản tường thuật St 3 là bản tường thuật về một hành vi quá phạm; con người kể trong bản tường thuật ấy không hề bị tước mất những ân huệ đặc biệt.

+ Lưu ý thứ hai.
Bản tường thuật tội Ađam và Eva không được nhắc tới nhiều trong Kinh thánh. Cựu ước chỉ liên tưởng tới đó có hai lần ở Hc 25,24 và Kn 2,24. Đối với Tân ước, phải phân biệt các sách Tin mừng và toàn bộ tác phẩm của Phaolô. Trong các Tin mừng, Đức Giêsu không nghĩ tới bản tường thuật đó một cách rõ ràng, ngoại trừ ở Gioan 8,44. Đang khi ấy, Phaolô dành một chỗ rất lớn để nói tới sư quá phạm của Ađam. Tại sao vậy? Vì Phaolô rất nhạy cảm với sự liên đới với mọi người trong ơn cứu độ do Đức Kitô, Con người mới, Ađam mới, mang lại. Và nhân dịp đó, Phaolô nói đến sự liên đới của mọi người trong tình trạng tội lỗi do tội của Ađam gây ra. Nói cách khác, (lưu ý này rất quan trọng) chính vì đề cập đến Đức Kitô (Kitô học) mà Phaolô mới suy nghĩ về Ađam hay về cái mà các nhà thần học gọi là luận về Ađam (hay Ađam học).

+ Lưu ý thứ ba.
Thể văn tường thuật này theo truyền thống Giavítta (có từ năm 950 trước Công nguyên) là một thể văn huyền thoại theo nghĩa tốt. Như vậy, bản văn này không có ý mô tả một  biến cố lịch sử. Hơn thế nữa và quan trọng nhất, như Paul Ricoeur giải thích, bài tường thuật ấy có ý ‘cụ thể hoá một điều phổ quát’ hay là một cách khái quát hoá kinh nghiệm của con người. ‘Ông’ Ađam đó chính là hết mọi người. Vì thế, ai cũng có thể tìm thấy đôi chút kinh nghiệm của bản thân mình, khi đọc bản văn đã được viết cách đây gần 3000 năm đó. Sau cùng huyền thoại ấy giúp ta suy nghĩ không ngừng về diễn biến của lịch sử, có lưu ý đến thân phận nhân loại của mình.

+ Lưu ý thứ tư.
Bài tường thuật này rất có thể đóng vai trò tầm nguyên (étiologique). Nghĩa là giúp suy nghĩ về nguồn gốc của sự dữ hay những xáo trộn của lịch sử con người. Ai cũng biết sự dữ là một trong những vấn nạn căn bản của con người. Paul Ricoeur nói: đó là ‘sự chọc giận lớn nhất bắt ta phải suy nghĩ và là sự mời mọc thâm hiểm nhất bắt ta phải chửi rủa’. Quả thế, sự dữ bắt ta nghĩ đến sự phi lý. Khi đụng chạm sự dữ, trong đầu ta nghĩ đến hai câu hỏi: sự dữ bởi đâu mà có? và tại sao có? Tôn giáo nào cũng bận tâm tới vấn đề nhức nhối này. Để nắm được nét độc đáo của suy tư Kitô giáo về vấn đề này, tôi xin kể ra bốn giải pháp cổ điển đã được các tôn giáo đưa ra trong lịch sử.
- Một số tôn giáo cho rằng sự dữ đã có từ nguyên thuỷ và xuất phát từ sự hỗn mang nguyên sơ. Nếu vậy, cứu độ là một hành vi của một Thiên Chúa nhân hậu chống lại sự hỗn mang đó để tạo thành vũ trụ.
- Có tôn giáo cho rằng có 2 nguyên lý sáng tạo: một thần tạo ra điều tốt và một thần làm ra sự dữ.
- Một vài tôn giáo và huyền thoại khẳng định chính Thiên Chúa gây ra cám dỗ; đó là một Thiên Chúa mù quáng và sai lầm, bắt con người phải theo một định mệnh rất bi thảm và con người không thể nào đi ngược lại. Những suy tư này có rất nhiều trong các vở kịch Hy lạp.
- Sau cùng có tôn giáo chủ trương sự dữ có là do một số linh hồn sa đoạ; đó là các mảnh hồn của thần linh rơi vào vật chất. Thân xác là một cơ cấu xấu xa từ ngoài chụp lấy con người. Sự dữ chính là tính trần tục của thế giới. Cứ theo chiều hướng suy nghĩ đó thì con người không phải chịu trách nhiệm về sự dữ, dù chính mình cưu mang nó.
Trước những cách giải thích đó, bài tường thuật về sự quá phạm của Ađam là một nỗ lực của đức tin Do thái giáo muốn suy tư về vấn đề căn bản ấy: vấn đề nguồn gốc sự dữ và sự thiện. Trọng tâm của bài tường thuật là phân biệt hai mặt của nguồn gốc tạo vật:
- Một đàng, sự thiện xuất phát từ một nguồn gốc uyên nguyên là Thiên Chúa; Người đã làm ra tạo vật tốt đẹp.
- đàng khác, sự dữ phần nào là do một cặp vợ chồng đã tự ý vi phạm một mệnh lệnh của Thiên Chúa, dù chính họ cũng do Thiên Chúa tạo ra. Tôi nói phần nào, vì như sẽ thấy, trước mặt Ađam và Eva lúc đó có con rắn, một kẻ đã bóp méo Lời Chúa trước cả Ađam và Eva (cf. P. Ricoeur, ‘Finitude et culpabilité’, t.2: ‘La symbolique du mal’, Aubier-Montaigne, 1960).
Như thế, trong Kinh thánh, sự dữ phần nào không còn là định mệnh tất yếu và đã được xác định là một sự kiện lịch sử, đang khi trong các huyền thoại khác sự dữ là một vết nhơ lan tới con người dù con người không muốn. Theo St 3, con người được giới thiệu như kẻ có tội, nghĩa là phải chịu trách nhiệm về một số sự dữ và một số trục trặc trong lịch sử. Theo nghĩa đó, câu chuyện huyền thoại của Kinh thánh có một chức năng là làm nền tảng cho khoa đạo đức: con người không phải là một con rối hoàn toàn thụ động trước những sự tất định xấu xa. Con người là một hữu thể tự do, có thể tự điều khiển tương lai của mình một phần nào.
Bây giờ ta hãy đi vào chi tiết câu chuyện quá phạm của Ađam. Vì không thể hiểu bài tường thuật này ngoài bài tường thuật về sự sáng tạo trước đó, nên tôi sẽ giúp các bạn đọc St 2 trước. Tuy nhiên tôi sẽ tạm gác các bản văn này để nói tới một số dữ kiện đang phổ biến của phân tâm học. Nhờ đó ta sẽ thấy rõ hơn hai bản tường thuật của St 2 và 3 có nội dung rất súc tích về nhân loại học. Quả là có một sự tương ứng rất đặc biệt giữa những quan điểm nhân loại học hiện nay và những cái nhìn có thể rút ra từ hai bản văn đó. Có thể có người trách tôi là đã rơi vào chủ nghĩa tương phù (concordisme), nghĩa là tìm mọi cách để cho Thánh kinh và khoa học ăn khớp với nhau. Thiết tưởng nói thế là không đúng, vì tôi không hề bảo rằng mục tiêu của các bài tường thuật trong Kinh thánh là mô tả một cách khoa học sự xuất hiện của con người và phân tích tâm lý con người. Sự tương ứng giữa các nghiên cứu hiện nay và những khẳng định của các bài tường thuật ấy cho thấy rằng Lời Chúa đã nói và đã đến với chúng ta qua những cơ cấu căn bản nhất của con người.

II. VÀI DỮ KIỆN PHỔ BIẾN CỦA PHÂN TÂM HỌC VỀ SỰ SINH THÀNH CỦA CON NGƯỜI

Ta hãy suy nghĩ về sự sinh thành của con người. Ngay từ phút khởi đầu, mỗi chủ thể là một hữu thể mà tiếng La tinh gọi là ‘infans’, nguyên ngữ có nghĩa là ‘chưa có khả năng nói’. Hữu thể ấy trước hết sống trong bụng mẹ. Tình trạng nguyên thuỷ của hữu thể ấy là sống trong một thế giới chưa phân định (thế giới của đồng nhất), mà trong sơ đồ dưới đây ta có thể hình dung như một quả trứng. Thế giới ấy được gọi là thế giới hỗn hợp, theo nghĩa có một sự cộng tác toàn diện giữa hữu thể ấy với nguồn gốc của mình, tức là mẹ mình. Thế giới hỗn hợp ấy sẽ ảnh hưởng đến hữu thể này suốt đời qua một số dấu vết còn tồn tại mãi. Nếu vậy, thế giới nguyên thuỷ này có những đặc điểm gì?

Có bốn hay năm đặc điểm. Quan trọng nhất là không có sự phân định. Quả thế, thế giới nguyên thuỷ này không có hai sự khác biệt quan trọng nhất là thời gian, một đặc điểm của mọi cuộc sống về sau, và sự hiện diện của người khác mà ta phải đương đầu để tồn tại. Đàng khác, bên dưới thế giới hỗn hợp ấy không có một sự trung gian nào, vì có trung gian là giả thiết hai bên có sự khác nhau. Đó cũng là một thế giới không hề sứt mẻ, đặc biệt là hai sự sứt mẻ quan trọng mà ta từng gặp trong đời: sự thất bại và, triệt để hơn, cái chết. Cuối cùng, đó là một thế giới của sự vạn năng mà người ta hằng mơ ước: thai nhi chưa hề biết người khác và chỉ sống trong vòng tay của chính mình hay của cái gì giống hệt mình. Vì thế, dường như không gì có thể chống lại quyền lực của thai nhi.

Đó chính là thế giới nguyên thuỷ cuả mỗi người chúng ta, có để lại nhiều dấu vết trong cuộc đời ta, và dù lớn đến đâu đi nữa, ta vẫn không nguôi nhớ nhung thế giới ấy. Đành rằng đó là thế giới tuyệt diệu, nhưng giam mình trong đó là tự kết án không cho mình được có mặt trong thế giới (thật)! Vì thế, trở thành con người là chấp nhận từ bỏ thế giới hỗn hợp ấy để đi tìm tha nhân trong sự khác biệt. Nói cách khác, ngay ở phút đầu cuộc đời ta, đã có một cuộc vượt qua: từ bỏ để tìm gặp. Thai nhi, một hữu thể chưa biết nói, phải rời bỏ tình trạng hỗn hợp nguyên thuỷ ấy để trở nên cái mà Lacan gọi là ‘parlêtre’ (parler-être), nghĩa là một chủ thể biết nói, có thể liên lạc, yêu mến. Sống là luôn luôn biết hoà hợp các ký ức về sự đồng nhất hằng ám ảnh ta với sự khác biệt đang chờ đợi và chi phối ta.

Dĩ nhiên từ bỏ một thế giới tuyệt vời như thế không phải làm một lần là xong: không phải ra khỏi bụng mẹ là đã từ bỏ xong. Cần phải có một thẩm cấp bên trên giúp cho hữu thể chưa biết nói ấy (‘infans’) biết từ kinh nghiệm hiện sinh của mình rằng từ nay nó không thể và bị cấm tái tạo lại thế giới tuyệt vời ấy, thế giới mà nó cho là mình đã sống vào thuở ban đầu. Cấp trên ấy sẽ làm cho hữu thể này tỉnh mộng, đẩy nó tới chỗ chỉ còn cách là từ bỏ thế giới nguyên thuỷ ấy: nó thấy mình bị cấm sống trong tình trạng bất phân định, như sơ đồ cho thấy từ nay giữa hữu thể ấy với nguồn cội của nó sẽ mãi mãi có một lỗ hổng, một sự thiếu hụt. Từ đó nó bị cấm không được tái tạo lại một thế giới bất phân định, một thế giới không sứt mẻ, một thế giới vạn năng. Cũng theo sơ đồ này, ta thấy ngay cần phải có sự cấm chế ấy chủ thể mới  vươn lên được. Nếu vậy, sự cấm chế làm cho sống chứ không giết chết vì nhờ đó chủ thể không còn bị đồng nhất với mình và người khác. Nói cách khác, từ nay trong quan hệ nhân bản sẽ luôn luôn có ba cực: người khác, tôi và sự thiếu hụt (lỗ hổng). Thậm chí có thể nói ngay cả đối với bản thân mình cũng luôn luôn có ba cưc: tôi quan sát, tôi bị quan sát và sự thiếu hụt (lỗ hổng). Thế là chấm dứt ước mơ muốn người khác và bản thân mình hoàn toàn trong suốt đối với mình; mình không còn thấu hiểu mình và người khác hoàn toàn được nữa.

Nếu vậy, thẩm cấp đưa ra cấm chỉ ấy là gì? Đó chính là cái mà ngôn ngữ chuyên môn của phân tâm học gọi là ‘quy luật tổ tiên’. Đây không phải chỉ là quy luật của người cha bằng xương bằng thịt, nhưng ám chỉ một thực tại rộng lớn hơn. Có thể nói đó là quy luật của văn hoá, nhất là quy luật của ngôn ngữ bắt ta phải đi qua các yếu tố trung gian của ngôn ngữ và như thế giữa ta và điều ta muốn nói có một khoảng cách. Nói luôn luôn là giữ một khoảng cách nào đó với các sự vật mà ta muốn nói. Nói về một điều gì là không còn đồng nhất mình với sự vật ấy nữa, mà là tạo ra và nhìn nhận có một lỗ hổng giữa ta với sự vật ấy.

Nói cách khác, dựa vào những suy tư đã được phổ biến của khoa phân tâm, ta thấy sống chính là thực hiện một kiểu hiện diện có nhìn nhận những khác biệt, từ bỏ tình trạng vạn năng, đồng nhất với người khác, để công nhận vai trò trung gian của các thực tại văn hoá. Trong các bài tường thuật có tính huyền thoại ở St 2 và 3 có nhiều điểm tương tự loại suy khá đặc biệt của khoa nhân loại học hiện nay, dù các bản tường thuật ấy có đóng góp thêm nhiều dữ kiện về thân phận con người trước mặt Chúa.

III. ĐỌC BÀI TƯỜNG THUẬT CỦA PHÁI GIAVÍTTA VỀ SỰ SÁNG TẠO: St 2,4b – 3,24

Bài tường thuật này (cf. X. Thévenot, ‘Emmaus, une nouvelle genèse?’ trong ‘Mélanges de Science Religieuse’, n 1/1980) mô tả thế giới trong tình trạng nguyên thuỷ như một sa mạc hoang vu đối chọi với một vùng đất đã được canh tác hẳn hoi. Có thể nói đó là một bước đi lên của một thiên nhiên thô sơ sang một thiên nhiên đã mang đậm dấu vết của văn hoá nhân loại, từ tình trạng hỗn mang hoang vu sang tình trạng có sự góp mặt của lao động con người (c.15). Hơn nữa việc sáng tạo ấy tiến xa tới mức ngôn ngữ loài người đã được sử dụng: ‘con người đặt tên cho các loài vật, chim trời, dã thú’ (c.20a). Như vậy, con người được giới thiệu trong bản tường thuật này là một con người đã làm một hành vi sáng tạo khi đặt tên cho các loài. Thế nhưng việc sáng tạo không dừng lại ở chỗ đặt tên cho muông thú thôi, mà trái lại đã tiếp tục và đạt tới đỉnh cao khi con người nhận ra phụ nữ là người thật sự đối xứng với mình, thế rồi thốt lên một lời thật rõ ràng, thật sung sướng: ‘Lần này, đây là xương tự xương tôi, thịt bởi thịt tôi, vì thế người ta sẽ gọi nó là Isha (‘đàn bà’) vì nó đã được rút ra từ Ish (‘đàn ông’) (c.23). Nếu vậy, theo tác giả St 2 Thiên Chúa sáng tạo là cho phép có một thế giới trong đó các vật có hồn hay không hồn đều tùng phục quyền bính của con người, một sự tùng phục biểu lộ qua một trung gian là lao động và ngôn ngữ. Sau cùng, ngay lúc này ta nhớ lại cuộc sáng tạo của Thiên Chúa lên tới cao điểm khi con người vui vẻ nhìn nhận có sự khác nhau về tính dục.

Thế nhưng, hãy đọc bản văn Kinh thánh kỹ hơn. Bài tường thuật bắt đầu bằng cách mô tả một miền đất không có cây cối. Chỉ có nước dưới lòng đất len lỏi qua các khe (c. 4-6c). Thửa đất ấy thật hoang vu, nhất là khi con người không có mặt thường xuyên ở đó để canh tác trồng trọt. Chính vì đó, Giavê xuất hiện để làm một việc nắn uốn, tương tự như công việc của người thợ gốm (c. 7a). Ađam được nặn thành hình với bụi rút lên từ đất (adama). Câu 7 cho thấy hai điều: một đàng, Thiên Chúa là người thợ gốm có một không hai; Người dùng bụi (aphar) chứ không dùng đất sét để làm ra Ađam. Thứ đến con người – sau này sẽ cho biết đó là con người có giới tính – có liên hệ với vũ trụ ở một cấp tầm thường nhất, hoàn toàn không đáng kể, đó là bụi đất. Bụi không phải là cái dính ở chân và bằng mọi giá phải rũ sạch nó hay sao? Qua chi tiết này tác giả mời gọi ta nhớ rằng con người có nguồn gốc sâu xa trong vũ trụ, nguồn gốc chung với mọi thú vật (c. 19). Quả thật, dù trưởng thành rồi, các ước vọng của ta vẫn luôn luôn mang dấu vết sâu đậm của các lực lượng vũ trụ u ám đó. Tôn trọng tạo vật thật sự không bao giờ là tìm cách loại trừ, phủ nhận các lực lượng vũ trụ đang chi phối con người và đang kéo con người lùi lại.

Câu 7b cho biết Thiên Chúa làm cách nào để ban sự sống cho hình hài đã được Người nắn lên: Người thổi hơi vào lỗ mũi hình thù ấy hơi thở của sự sống (neshama). Đành rằng hơi thở này cho thấy sự mong manh của con người. Nhưng đó cũng là dấu nói lên con người được tự lập với đấng tạo thành mình. Tự lập vì từ nay con người có hơi thở riêng. Nên lưu ý là trẻ nhỏ tỏ ra tự lập trong sinh hoạt hô hấp hơn trong sinh hoạt dinh dưỡng. Thế nhưng đây là sự tự lập nhận lãnh được, vì theo bài tường thuật Chúa đã tặng không cho hình thù bất động ấy hơi thở của Người. Sự tự lập nhận lãnh được này, ta cũng sẽ thấy khi Thiên Chúa hoàn thành công cuộc sáng tạo của mình qua việc sai Thánh Thần xuống (Cv 2). Cộng đoàn Kitô hữu sơ khai đã được tái tạo lại (được sống dậy) một cách vĩnh viễn khi đón nhận hơi thở (pneuma, còn gọi là Thần Khí) của Đức Giêsu. Mọi nỗ lực của ta nhằm nhân bản hoá, nếu muốn trở thành những nỗ lực có khả năng tái tạo, đều phải dựa trên ý thức nghiêm túc thế nào là biến đổi từ thân xác sống động do hơi thở của Giavê (St 2,7) sang thân xác sống động do Thần Khí (pneuma) (1Cr 6) để trở thành thân xác ‘thần khí’ toàn diện (1Cr 15,44). Chủ đề hơi thở hay Thần Khí rất phong phú: sách St 1,2 đã cho biết Ruah (Khí) ngay từ thuở khai nguyên đã bay lượn đây đó, Lc 1,35 khẳng định Ruah đã chiếm trọn Đức Maria để ngài hạ sinh đứa con đầu lòng của trật tự sáng tạo mới. Khi suy nghĩ về con người trong thân xác mình, về các mối quan hệ của con người, ta không thể không nghĩ tới thân xác đã được thổi hơi vào, không thể không nghĩ tới hơi thở sáng tạo của Thiên Chúa. Hơi thở hay Thần Khí này theo Gioan là nhân vật duy nhất có khả năng đưa ta tới chân lý toàn diện (Ga 16,13). Còn thánh Mátthêu cho rằng phạm tội đối với nhân vật này là đã tự kết án mình để không bao giờ được gặp Thiên Chúa nữa (Mt 12,32).

Câu 8 và câu 15 cho biết con người đầu tiên được Chúa đặt trong vườn địa đàng để dùng làm lao động biến cải đất đai. Nên lưu ý là ngay trong vườn gọi là ‘hoan lạc’, một nơi sống rất thoải mái, con người vẫn phải chấp nhận những trung gian, nghĩa là phải canh tác trồng trọt. Sống hạnh phúc không phải là được hưởng thụ trực tiếp như trong thế giới hỗn hợp của thai nhi. Luca 4,3 cũng gián tiếp nhắc lại chân lý này. Ma quỷ đề nghị Đức Giêsu sử dụng quyền năng Con Thiên Chúa để tiết kiệm lao động: ‘ chỉ cần phán một lời thôi, ngươi sẽ biến đá này thành bánh’. Nhưng Đức Giêsu đã dứt khoát từ chối sử dụng quyền năng theo lối đó.

Khước từ hưởng thụ trực tiếp và tức khắc, điều ấy còn được nói rõ hơn khi ta đọc thấy lệnh cấm căn bản của Thiên Chúa (c. 9 và c. 16-17). Lệnh cấm này liên hệ chủ yếu tới vai trò của miệng: ‘Ngươi không được ăn trái cây biết lành biết dữ’. Miệng vốn được coi là nơi hình thành nhân cách theo quan niệm xa xưa. Vì thế không lạ gì trong Kinh thánh các cám dỗ phần lớn có liên quan đến cái miệng như cám dỗ của cặp vợ-chồng đầu tiên, cám dỗ của dân Chúa trong sa mạc, cám dỗ của Đức Giêsu. Qua lệnh cấm này, Thiên Chúa đã khơi gợi lòng thèm muốn của con người; con người vốn không được ăn trái cây hiểu biết mà! Sách St 2 cho biết: yêu thương, sống và sống nên người, là phải lao động và phải tập khát khao giữa một thế giới có nhiều khác biệt (khác biệt giữa cây được ăn và cây bị cấm), có thiếu hụt và lỗ hổng. Ngay ở câu 9, tác giả đã giới thiệu chủ đề thị giác, một chủ đề đóng vai trò rất quan trọng ở St 3: ‘các cây trong vườn nhìn thật sướng mắt!’. Ở đây, tác giả chỉ mới cho biết nhìn là nguồn đem lại khoan khoái. Ít lâu sau, tác giả sẽ cho thấy nhìn là con đường mở cho cám dỗ lọt vào.

Kèm theo luật cấm căn bản của Thiên Chúa, có một lời tuyên bố như sau: ‘ngày nào ngươi ăn trái cây biết lành biết dữ, ngươi sẽ phải chết’ (c.17). Lời tuyên bố này có phải là một lời đe doạ của Thiên Chúa không (‘Ta sẽ phạt ngươi vì sự bất tuân ấy’)? Nếu đúng vậy thì hình phạt là một cái gì nằm ngoài con người. Thế nhưng trong phần tiếp của câu chuyện, ta không thấy Ađam và Eva chết ngay sau khi lỗi phạm. Câu 3,19 đã từng bảo con người là bụi đất, nên con người bây giờ phải trở thành bụi đất chứ! Dựa vào một số đoạn Thánh kinh coi cái chết chỉ là một hiện tượng tự nhiên, các nhà thần học đã không chấp nhận giả thuyết trên đây. Một số thần học gia muốn coi câu 17 chỉ là một lời tuyên bố có tính cách ghi nhận hơn: ‘con người chỉ có thể sống, sống thật sự khi tôn trọng sự thiếu hụt, lỗ hổng, chấp nhận những trung gian, tình trạng không biết lành biết dữ trọn vẹn. Nếu không tôn trọng và chấp nhận như thế, thì do sự tất yếu nội tại, cuối cuộc hành trình con người sẽ chết’.

Nên lưu ý trái cấm là trái của cây biết lành biết dữ. Các nhà chú giải hiểu rằng đó là cây mang những trái có thể giúp con người nắm được cái bí mật vượt quá sức mình. Nếu vậy, Thiên Chúa đã ‘cắt ngang’ và làm con người cụt hứng trong ước vọng muốn biết tất cả, làm chủ tất cả. Con người được cứu độ ở chỗ không biết tất cả.

Sau khi cho thấy con người phải tuân hành lệnh cấm căn  bản ấy và con người lúc nào cũng khắc khoải nỗi khát vọng ấy, câu 18 đề cập tới sự cô độc của con người; ‘con người ở một mình không tốt, Ta muốn làm cho nó một người trợ thủ như nó’. Cô độc cũng được coi như một bất hạnh. Con người chỉ có thể thực hiện ước vọng của mình một cách vui tươi khi có sự chia sẻ của người phụ nữ. Câu chuyện quá phạm sau này cho thấy một trong những hậu quả của tội là đưa con người về lại trình trạng cô độc trong tội bằng cách cắt đứt sự liên đới với người khác (St 3,12). Các câu 19-20 tuy mô tả Giavê cũng nắn lên các thú vật từ đất như con người, nhưng không thấy nói chúng nhận hơi thở của sự sống (neshama) của Giavê. Vì thế, hình như giữa người và thú vật không giống nhau bao nhiêu. Đó là một định lý tâm lý rất thích đáng:càng khác nhau người ta càng cô độc hơn. Chỉ khi nào biết hoà hợp khéo léo sự dị biệt và sự tương đồng, cái khác và chính mình, ta mới có thể vui vẻ đảm nhận thân phận con người. Đây chính là ý nghĩa của sự kiện người đàn bà được dựng nên từ cạnh sườn của người đàn ông. Bài tường thuật ấy cũng cho thấy người đàn bà vừa giống vừa khác người đàn ông. Quả thế, nam nữ cùng có một bản tính vì cả hai đều chung một xương thịt. Tiếng kêu lên đầy hoan hỉ của người đàn ông càng cho thấy rõ điều đó: ‘này đây xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi’. Nhân đây nên nhắc lại sự hiệp thông giữa người nam và người nữ không phải là do sáng kiến của người nam. Ađam chỉ nhìn nhận một thực tại không phải do mình làm ra; nguồn gốc của người đàn bà có phần nào bí mật đối với ông, vì bà được tạo dựng lúc ông ngủ. Như vậy lại thêm một hình thức vô tri không biết. Ước muốn biết hết , muốn toàn năng, muốn hiểu tường tận về nguồn gốc của mình và của người khác một lần nữa đã bị đánh đổ! Người đàn ông lên tiếng để nhìn nhận người đàn bà vừa giống vừa khác mình, là do tình trạng vô tri không biết hết. Vì được rút ra từ người đàn ông (ish) nên người nữ sẽ được gọi là đàn bà (ishsha).

Rốt cuộc, dựa theo các bài tường thuật trên đây, ta thấy Thiên Chúa sáng tạo không phải là làm xuất hiện một thế giới vượt trên tự nhiên, mà chỉ là một thế giới trong đó con người chỉ làm chủ vũ trụ qua lao động và ngôn ngữ, trong đó có sự khác biệt giữa cây được phép ăn và cây bị cấm, có sự khác biệt giữa Thiên Chúa và thụ tạo, giữa người đàn ông và người đàn bà: những điều này ta nhận thức được là nhờ tin vào lệnh cấm của Tạo hoá. Sau hết, trong thế giới đó người ta có được những giây phút kết hợp thâm sâu thật hoan lạc, không phải tụt xuống thế giới tự nhiên mà mình đã từ đó ngoi lên. Đọc câu chuyện quá phạm của Ađam – Eva,  ta cảm thấy tội lỗi đã phá vỡ sâu xa sự quân bình căn bản đó, bằng cách làm cả công trình sáng tạo như phải xuống cấp.

IV. BÀI TƯỜNG THUẬT CỦA TRƯỜNG PHÁI GIAVÍTTA VỀ SỰ QUÁ PHẠM: St 2,25 - 3,19

Bài tường thuật này bắt đầu từ câu 25 bằng cách lưu ý rằng người đàn ông và người đàn bà trần truồng nhưng không cảm thấy xấu hổ. Truyền thống Giáo hội lâu nay vẫn thắc mắc không biết trong trình thuật ấy có liên tưởng đến vấn đề tính dục không. Nhờ các nhà thần học không lên tiếng mà có người đã dám quả quyết rằng tội nguyên tổ chính là một tội liên quan đến tính dục. Đọc lại trình thuật trên đây bắt ta phải tránh những khẳng định hồ đồ đó! Nếu vậy phải hiểu việc ‘trần truồng’ trong trình thuật ấy thế nào? Trước hêt, phải lưu ý rằng trần truồng tự nhiên gợi cho ta một cái gì yếu đuối: người trần truồng là người bị tước mất mọi vũ khí. Vì thế, không phải là vô nghĩa khi Tân ước giới thiệu Đức Giêsu, Ađam mới, đã chết trần truồng trên thập giá, tới mức phải phó thác tất cả cho quyền năng Cha. Tuy nhiên, theo tôi, ta cũng có thể đọc đề tài trần truồng ấy theo một nhãn quan khác. Quả thế, St giới thiệu cho chúng ta người đàn ông và người đàn bà không hề xấu hổ với nhau dù trần truồng. Điều ấy có nghĩa là họ biết sự khác biệt giới tính giữa họ với nhau và họ phải lệ thuộc nhau. Chính điều đó bắt họ phải nghĩ tới sự bất lực và thân phận thụ tạo của mình. Quả thật, giới tính – ai cũng có thể ý thức điều này rất dễ dàng – là một trong những môi trường đặc biệt cho ta kinh nghiệm thế nào là lệ thuộc, là giới hạn, vì qua tính dục ta thấy mình bị người khác thu hút và mình không phải là tất cả nhân loại. Làm đàn ông là phải nhìn nhận mình không thể là đàn bà, và ngược lại. Sự giới hạn mà tính dục nhắc nhở cho ta chắc hẳn Ađam và Eva đã thấu hiểu (c.25), nhưng đồng thời đó cũng là một thử thách, vì qua đó giấc mơ toàn năng của ta đã bị giới hạn. Bởi vậy chỉ cần một yếu tố nhỏ xíu thôi thử thách ấy cũng lập tức trở thành một cơn cám dỗ. Chút xíu đó con rắn, loài vật tinh ranh nhất, đã tìm cách đưa vào. Nó đem những hứa hẹn nảy sinh từ những dấu vết mà thế giới hỗn hợp thuở khai sinh còn để lại nơi ta mà loè mắt người đàn ông và người đàn bà ấy, như sau này Xatan đã làm với Đức Giêsu (Lc 4).

Con rắn gặp người đàn bà trước. Nhiều người tự hỏi tại sao lại gặp người đàn bà trước, chứ không với Ađam. Có người cho rằng đó là do ảnh hưởng của một xã hội có khuynh hướng đề cao nam giới như xã hội tác giả viết thuật trình này. Điều đó không phải là không có thể xảy ra. Nhưng tôi thiết tưởng nên coi chi tiết đó là một cách trình bày đúng theo lô-gíc của bản văn. Quả thế, thuật trình về sự sáng tạo giới thiệu người phụ nữ là chóp đỉnh công trình sáng tạo, vì hành vi sáng tạo của Thiên Chúa chỉ thật sự hoàn thành khi Eva được dựng nên. Vì thế, nếu phạm tội là hạ cấp công trình sáng tạo thì theo lôgíc quá trình ấy phải bắt đầu từ chóp đỉnh của công trình sáng tạo tức là người phụ nữ, rồi dần dần mới đụng đến các thành phần khác của thế giới thụ tạo…

Như thế, con rắn sẽ cám dỗ người phụ nữ phạm tội trước. Muốn vậy, nó sẽ bóp méo lệnh cấm của Thiên Chúa bằng cách gán cho lệnh cấm ấy những mức độ đòi hỏi mà Tạo hoá không đòi buộc. ‘Thiên Chúa đã phán: các ngươi không được ăn TẤT CẢ các loại cây trong vườn’ (c. 1b).Như thế là gián tiếp bảo rằng Thiên Chúa tạo hoá mà con người hằng ao ước là một Thiên Chúa hay làm cụt hứng một cách tàn nhẫn, vì từ nay mọi trái cây đều bị cấm, có nghĩa là không có ước vọng nào của họ được thoả mãn hết. Cơn cám dỗ của con rắn với Eva theo tôi là một cơn cám dỗ mà tôi thường gặp thấy trong kinh nghiệm mục vụ của mình. Biết bao lần tôi được dịp gặp gỡ nhiều người, nhất là các tu sĩ nam nữ, có cảm tưởng như mình đang phải sống trước mặt một Thiên Chúa hay làm mình cụt hứng. Chẳng hạn, mới đây có một nữ tu nói với tôi: ‘Chúa đã tạo nên con với những ước muốn dục tính, nhưng Ngài lại cản không cho con thoả mãn những ước muốn ấy qua lời khấn độc thân. Chúa đã tạo ra con với những ước muốn chiếm hữu, nhưng Ngài lại cản không cho con thoả mãn những ước muốn ấy qua lời khấn nghèo khó. Chúa đã tạo nên con với những ước muốn chỉ huy, nắm quyền, nhưng Ngài lại cản không cho con thoả mãn ước muốn ấy qua lời khấn vâng phục. Chúa đã tạo nên con với bản năng gây hấn, nhưng Ngài lại cản không cho thoả mãn bản năng ấy khi đòi con phải sống hiền lành theo Tin mừng, phải yêu thương thù địch, phải đưa cả má trái khi bị người ta vả má phải. Dứt khoát Thiên Chúa là một nhân vật có tính bạo dâm vì đã tạo nên con với những ước muốn nhưng lại không cho con thoả mãn chúng’. Nghe những lời lẽ này, ta có dịp thấy lại chiến thuật của con rắn ngày xưa là phóng đại những lệnh cấm của Thiên Chúa. Thật vậy, cám dỗ thường xuất hiện khi ta phóng đại những lệnh cấm ấy. Tôi nói phóng đại vì trong thực tế - để suy nghĩ tiếp về những điều tôi vừa nêu ra trên đây – Chúa không bao giờ cấm thực hành tính dục, quyền bính, tiền bạc, sự tự vệ. Người chỉ đòi chúng ta không được lạm dụng tính dục, sự tự vệ, và tất cả chỉ vì chúng ta.

Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục đọc lại thuật trình của sách Sáng thế. Trước những lời bóng gió của con rắn, người phụ nữ bắt đầu a dua theo âm mưu của con rắn: bà cũng phóng đại lệnh cấm của Thiên Chúa khi nói: ‘Thiên Chúa bảo chúng tôi: các ngươi không được ăn trái cây biết lành biết dữ và không được đụng đến trái cây ấy’. Thế nhưng Chúa đâu có cấm họ sờ mó trái cây ấy (St 2,17). Trong phản ứng của Eva ta thấy lại một quy luật tâm lý cổ điển: khi muốn phạm luật, người ta thường có khuynh hướng nhấn mạnh hơn tới lệnh cấm để che đậy sự lỗi phạm của mình. Làm thế để tự bảo vệ mình, một cách khá là nguỵ tín. Thế nhưng chính khi không còn thành thật với ước muốn của mình, người ta đã vô tình đẩy sự vi phạm của mình đi xa hơn mình tưởng.

Lúc này người phụ nữ không còn lưu ý tới những hậu quả nghiêm trọng kèm theo những lệnh cấm của Thiên Chúa. Con rắn bảo: ‘Ông bà sẽ không chết. Nhưng vì Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái này, mắt ông bà sẽ mở ra, ông bà trở nên như thần thánh biết lành biết dữ’. Con rắn quả là đã bắt được đúng điều căn bản: mọi tội lỗi đều bắt nguồn từ chỗ không nghe theo Lời Chúa. Điều nó đề ra cho ông bà ở đây là họ sẽ mở mắt thấy mọi sự bằng cách thôi không tin vào lời đấng Tạo hoá nữa. Đây là một cám dỗ rất quen thuộc trong Kinh thánh: cám dỗ con người thôi đừng TIN vào Lời Chúa nữa để được THẤY. Vì tin là buông mình theo lời của người khác, là chấp nhận không biết một cách nào đó. Ngược lại, chỉ đòi thấy là chỉ tin vào sự hiện diện có tính cách sự vật của người khác. Thế nên Gioan đã không ngần ngại tuyên bố: ‘Phúc cho ai không thấy mà tin’ và đã liên kết đức tin với điều trông thấy khi kể chuyện ông đi đến mộ Đức Giêsu và thấy…một sự trống rỗng (Ga 20,8). Một điều đáng lưu ý là trong câu chuyện kể lại việc quá phạm của Ađam-Eva, tác giả liên kết lời hứa cho thấy hết với lời hứa cho biết toàn diện hay lời hứa cho được làm chủ được mọi lệnh cấm.

‘Mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở thành thần thánh’. Một lần nữa người ta được hứa hẹn sẽ có sức mạnh vạn năng của thần thánh. Xatan rủ con người bước ra khỏi thân phận loài người, tiến vào kiếp siêu nhân, một sự thần hoá giả tạo phi nhân. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, sẽ lật ngược nỗ lực không ngừng ấy của loài người tội lỗi, bằng cách chấp nhận trở thành người và vì tình thương chấp nhận chết để liên đới với những con người bị khai trừ khỏi xã hội (Lc 4,1-13; Pl 2,6-11). Sự lật ngược ấy, Đức Giêsu sẽ nhắc lại cho các môn đệ Emmau hiểu (Lc 24,16).

Sau cùng, người phụ nữ đã đầu hàng cơn cám dỗ. Bà lợi dụng sự liên đới giữa mình với người đàn ông để lôi kéo ông cũng từ bỏ không tin vào Lời Chúa nữa. Lúc ấy mắt họ mở ra (c.7). Nhưng có thể nói mắt họ mở ra để thấy sự giới hạn của mình thật to lớn, sự bất lực hoàn toàn của mình không thể thực hiện những hứa hẹn của thế giới xa xưa hằng ám ảnh họ: ‘họ mới biết mình đang trần truồng’. Tưởng rằng vi phạm lệnh cấm là được mở mắt thấy sự toàn năng của mình, nhưng ngược lại nó chỉ cho họ thấy có sự khác biệt giữa hai bên. Sự trần truồng được nhắc tới trong thuật trình này nhằm diễn tả điều đó. Quả thật, như đã nói trên, biết mình trần truồng trước phái tính kia là biết có sự khác biệt hoàn toàn về tính dục giữa hai bên; biểu lộ qua sự khác biệt bên ngoài giữa hai thân xác. Thế nhưng nếu biết chấp nhận lệnh cấm là giúp hai người sống thoải mái tự nhiên với sự khác biệt ấy (St 2,25) thì ngược lại tội lỗi làm hai người không muốn nhìn nhận sự khác biệt ấy, dù ý thức rõ điều đó. Đây là một cách hiểu câu 7b: ‘Họ mới kết lá vả làm khố che thân’. Làm như thể cứ che đi thì không còn khác nhau về tính dục nữa! Cặp vợ chồng đầu tiên ấy như muốn nói: ‘Chúng tôi quá biết hai chúng tôi khác nhau về tính dục, nhưng ta hãy che đậy điều ấy đi để không còn thấy sự giới hạn mà nó làm chúng tôi nhớ tới’. ‘Tôi quá biết con người bị giới hạn. Tôi dứt khoát chỉ là loài thụ tạo: Nhưng dầu sao tôi vẫn có thể trở thành Chúa, còn nếu như không thể được thì ít là tôi sẽ che giấu đi sự giới hạn của mình’.
Nhân tiện tôi cũng xin mở ngoặc lưu ý các bạn là việc mở mắt của hai ông bà ở đây cũng sẽ diễn ra trong một câu chuyện khác của Kinh thánh mà ai cũng biết, đó là câu chuyện của hai môn đệ Emmau (Lc 24). Hai môn đệ này cũng cứ loay hoay trong giấc mơ của mình là mơ được vạn năng, vì theo họ, Đức Giêsu sẽ giải quyết hết mọi sự như trong một phép lạ. Thế mà Đức Giêsu ấy đã phải chịu chết và thất bại. Rồi Đức Giêsu ấy hiện ra nhắc nhở họ (bằng cách giải thích sách Luật và Các ngôn sứ) lệnh cấm của Thiên Chúa buộc mọi người phải chấp nhận sự giới hạn của mình. Chỉ sau khi kéo họ lưu ý lại Lời Chúa như thế, Đức Giêsu mới mời họ ăn, như Xatan đã mời Ađam-Eva ăn. Tuy nhiên thay vì ăn là một cách vi phạm luật cấm của Thiên Chúa, Người đã giúp hai môn đệ Emmau biến cái ăn ấy thành nơi gặp gỡ Nước Trời. Mắt họ mở ra nhưng mở ra để thấy sự khác biệt cơ bản giữa Thiên Chúa và loài người. Ngay sau đó Đức Giêsu lập tức biến mất để làm họ đừng quá cậy dựa vào điều mắt thấy. Một lần nữa thấy Đức Giêsu là đồng thời nhận ra sự thiếu hụt, trống trọi để từ đó phải lấy đức tin mà bù lại.
Để kết thúc phần giải thích thuật trình về sự quá phạm của Ađam-Eva, ta hãy nhìn xem những hậu quả của tội. Vì tội phá hỏng sự hài hoà giữa điều khác và điều giống, nên lãnh vực nào (lẽ ra trong đó có sự phối hợp hài hoà giữa cái khác và cái giống) cũng đều trở nên xấu đi do tội lỗi ấy gây ra. Chẳng hạn từ nay sự khác biệt giữa ta với Thiên Chúa trở nên tai hại, khó chấp nhận vì Ađam và Eva bỗng trở nên sợ Thiên Chúa (St 3,8). Cần phải được cải tạo giáo dục lại, con người mới hiểu được đã yêu Thiên Chúa trọn vẹn thì không còn sợ hãi nữa (1Ga 4,18). Cũng thế, từ nay sự khác biệt giữa người đàn ông và người đàn bà trở nên tai hại, khó sống. Thật thú vị khi đi theo logíc của câu chuyện: trước đây người đàn bà đã coi xương sườn của Ađam, người đàn ông, là nguồn gốc của mình. Nhưng từ nay, tội lỗi làm hỏng cả mối quan hệ giữa người đàn bà với nguồn gốc đó: câu 16b cho thấy người đàn bà sẽ phải chịu đựng sự cậy quyền của người đàn ông và sẽ thấy thật khó sống mối quan hệ với con cái mình, dù mình cũng là một trong những nguồn gốc của chúng. Người đàn ông biết nguồn gốc mình là ở đất. Nhưng quan hệ giữa người đàn ông với đất đai trở nên khó sống vì theo câu 17 sau khi phạm tội, người đàn ông phải vất vả và chịu đựng việc lao động với đất đai.
Như vậy, như tôi đã nói, tội là một sự phá hỏng cơ cấu của thế giới, một hình thức làm xuống cấp công trình sáng tạo. Chính vì thế, tội lúc nào cũng vừa là sự xúc phạm đến Thiên Chúa vừa là sự xúc phạm đến con người và vũ trụ.

V. TỔNG KẾT:
VÀI HỆ LUẬN RÚT RA TỪ VIỆC GIẢI THÍCH St
2 – 3 TRÊN ĐÂY
- Mọi tội lỗi đều bắt đầu từ chỗ không chú ý lắng nghe Lời Chúa. Điều này thấy rõ qua thái độ của Eva khi đứng trước những đề nghị của con rắn. Chính vì thế, sau này Tân ước khẳng định: ‘nếu anh em không muốn sa chước cám dỗ, thì hãy tỉnh thức và cầu nguyện’ (Mt 26,41). Vì cầu nguyện là không ngừng làm cho mình nhớ tới những kỳ công Chúa đã thực hiện. Còn tỉnh thức là đặt mình trong tư thế luôn luôn sẵn sàng tiếp nhận Lời Chúa.
- Nguồn gốc của tội thường nằm ở chỗ bóp méo những ý định của Thiên Chúa, nghĩa là thường là do sự dối trá. Thánh Gioan sau này còn dám khẳng định: ‘ma quỷ là cha đẻ của sự dối trá’ (Ga 8,44). Bóp méo những ý định của Thiên Chúa về con người là để mình bị lôi kéo vi phạm luật Chúa, vì như đã nói trên đây, lúc đó người ta coi Thiên Chúa như một nhân vật chỉ muốn con người chết, đang khi kỳ thật lúc nào Ngài cũng muốn con người sống.
- Tội là một hành vi đi tắt bằng cách sử dụng những trung gian nhân loại. Ta có thể thấy rõ điều này khi đọc lại thuật trình về 3 cơn cám dỗ của Chúa Giêsu (Lc 4). Cám dỗ thứ nhất là muốn tiết kiệm lao động mà vẫn có bánh ăn. Cám dỗ thứ hai là muốn tiết kiệm thời gian, không muốn mất giờ: theo Xatan, Đức Giêsu có thể có được mọi thứ ngay lập tức nếu chịu quỳ lạy Xatan. Và cám dỗ thứ ba là muốn tiết kiệm hay muốn khỏi chết và thất bại: Xatan cho Đức Giêsu biết rằng Ngài có thể không bị chết khi nhảy từ nóc đền thờ xuống. Cả 3 cám dỗ này đều xuất phát từ một giấc mơ hằng ám ảnh mỗi người chúng ta. Đó là mơ tái tạo lại thế giới nguyên thuỷ, mà trên đây tôi đã có dịp minh hoạ bằng hình quả trứng.
- Cuối cùng, tội nào cũng là hành vi biểu lộ ý muốn làm xuống cấp công trình sáng tạo, nghĩa là muốn làm người khác thay đổi thay vì cứ tôn trọng sự khác biệt của họ, muốn lùi về lại với tình trạng bất phân định thuở ban đầu. Như vậy, tội là hành vi chôn vùi sự hoà điệu của thế giới. Và bởi đó tội là nguồn đẻ ra biết bao sự trục trặc làm cho con người phải đau khổ. Nếu vậy, tội nào cũng đưa cái chết vào trong thực tế. Không hẳn lúc nào cũng là cái chết về mặt sinh vật. Nhưng là cái chết trong những quan hệ nhân bản. Và do đó, tội cũng là một hành vi xúc phạm đến ý định của Thiên Chúa: Người chỉ muốn thấy con người sống sung mãn.
- Tội nào cũng là hành vi biểu lộ ước vọng muốn vượt qua thân phạn thụ tạo để tìm cho được sức mạnh vạn năng. Tai hại hơn là đôi khi người ta còn dùng chính Lời Chúa một cách sai lạc để thực hiện điều đó. Như trong cám dỗ của Đức Giêsu ở Lc 4,10: Xatan dùng lời Thánh vịnh 91 để thúc Đức Giêsu tránh né những giới hạn của con người, nhất là tránh né cái chết.
- Nếu dựa  vào St 2 – 3, ta sẽ thấy trong các khuynh hướng ăn sâu vào con người chúng ta luôn luôn có một cái gì đó rất tốt để giúp cho các cám dỗ được nảy sinh. Đặc biệt là qua 3 ước muốn sau đây:
Trước hết là ước muốn ở miệng, muốn tiêu thụ. Đây là một điều đáng cho ta suy nghĩ vì chúng ta đang sống trong một xã hội mệnh danh là xã hội tiêu thụ, làm ta có cảm tưởng rằng hạnh phúc là do ta có được những của cải để làm thoả mãn các khát vọng của mình. Nếu vậy, thuật trình  trên đây của sách St đúng là một lời chỉ trích tổ chức xã hội của chúng ta ngày nay.
Thứ đến là muốn thấy và muốn biết. Đây cũng là những ước muốn ám ảnh con người hiện nay. Đây chỉ là một dấu hiệu cho thấy điều đó: Ngày nay ta rất hay nghe dân chúng nói ‘điều đó chưa rõ lắm’. Làm như con người không thể sống hạnh phúc được nếu không được tận mắt nhìn thấy. Thế mà theo tư tưởng của khoa nhân loại học và tư tưởng của Kitô giáo, sống còn là tin vào người khác, vượt lên trên những bằng chứng hiển nhiên, sống là biết lắng nghe dù không hiểu hết.
Cuối cùng, muốn nghe, nhưng chỉ muốn nghe những gì khuyến khích ta đi tìm sự vạn năng. Ở đây, một lần nữa Kinh thánh lại lật ngược những khuynh hướng tự nhiên của chúng ta, khi cho thấy rằng trước hết phải lắng nghe Lời Chúa và Lời Chúa kêu gọi chúng ta hãy lắng nghe những người thấp bé nhất trong xã hội, những người bị khai trừ khỏi xã hội. Lời ấy đã được đúc kết lại trong mối phúc thứ nhất: ‘Phúc cho những ai nghèo khó’.
- Cứ như St 2 và 3 mô tả, đành rằng khi phạm tội con người tỏ ra có một khả năng phá hoại rất lớn. Nhưng rất cuộc, đó  cũng chỉ là khả năng có hạn vì trong câu chuyện huyền thoại đó con người không phải là nguồn gốc duy nhất của sự dữ. Trước mặt con người đã có con rắn, một tạo vật của Thiên Chúa, kẻ đã bóp méo lệnh cấm của Thiên Chúa. Nói như thế có nghĩa là sách St cũng công nhận con người có phần nào không hiểu được sự dữ. Sự dữ vẫn mang tính chất phi lý. Nhưng nếu không còn phi lý thì sự dữ có còn là sự dữ nữa không?

IV. CUỐI CÙNG PHẢI HIỂU TỘI NGUYÊN TỔ NHƯ THẾ NÀO?

1/ Chữ ‘tội’, hiểu theo nghĩa chặt, là một hành vi tự ý đoạn tuyệt với Thiên Chúa, và vì thế không hợp lắm để chỉ tình trạng bẩm sinh của hết mọi người. Truyền thống Hy lạp cũng không dùng kiểu nói ‘tội thọ sinhh’ (‘péché originé’, phân biệt với ‘péché originant’, là tội của Tổ tông, sinh ra tình trạng tội lỗi của ta). Vì thế, theo gương các nhà thần học Công giáo nghiêm túc nhất, chúng ta chỉ dùng chữ ‘tội’ theo nghĩa loại suy để chỉ tình trạng bẩm sinh của mọi người.
2/ Hiển nhiên ta không được quan niệm tội thọ sinh hay tình trạng tội bẩm sinh như một thứ vết nhơ hay như một dấu vết di truyền qua đường sinh đẻ, dù tự nhiên ta vẫn thấy quan niệm như thế có ích phần nào!
3/ Khi phạm tội, mọi người ngày nay đều thấy lại nơi đó đôi chút kinh nghiệm của Ađam – Eva ngày xưa, được mô tả trong St 3. Nói khác đi, tội tác sinh (‘péché originant’) hay hành vi tội lỗi của Ađam – Eva như đang diễn lại nơi mỗi người chúng ta. Nhưng khác với những người nguyên thuỷ chúng ta phạm tội từ một tình huống khác; đó là khi sự dữ đã thành hình rõ rệt trong xã hội, do tội của những người đi trước chúng ta.
4/ Ngày nay, nhiều nhà thần học (như Schoonenberg) gọi tội thọ sinh là tình trạng bất lực căn bản của hết mọi người khi sinh ra, bất lực để định hướng cuộc đời mình bằng cách có một sự lựa chọn căn bản phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa. Tình trạng bất lực ‘có tính cơ cấu’ này phát sinh do con người không bao giờ sống cô độc một mình. Ngay trong cơ cấu căn bản của mình, ai cũng đòi phải lệ thuộc một mạng lưới phức tạp gồm những quan hệ xã hội khác nhau. Thế mà trong mạng lưới làm nên con người đó đã có tội lỗi.Thứ tội này, thánh Gioan gọi là ‘tội thế gian’ (Ga 1,30; 1Ga 5,19). Như vậy theo giáo lý về tội nguyên tổ, nếu nhìn thế giới theo đúng lôgíc của nó, vì toàn bộ tội lỗi của nhân loại và dĩ nhiên của cả Tổ tiên nhân loại trong đó, thế giới ấy không còn hướng về Đấng Tạo hoá và tiếng gọi Tình yêu của Người một cách tự nhiên nữa. Cụ thể (Thánh giá Đức Kitô nhắc ta điều này) là cứ theo lôgíc của một thế giới đã bị ảnh hưởng bởi tội nguyên tổ như thế, người ta sẽ luôn luôn tìm cách lên án người vô tội, khai trừ người bạc phận và tệ hơn nữa, dùng Lời Chúa để làm vong thân con người bằng cách kéo con người ra xa Thiên Chúa thật.
Tuy nhiên ta đừng quên rằng theo thánh Phaolô đằng sau sự liên đới của mọi người trong tội còn có một điều quan trọng hơn là mọi người đều liên đới với nhau trong ơn cứu độ của Đức Giêsu – Kitô. Nhờ Ađam mới là Đức Kitô và nhờ Chúa Thánh Thần, Người đã ban cho ta , mọi người đều có thể định hướng trở lại để quay về với đúng kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch duy nhất có khả năng nhân bản hoá mọi sự. Vì thế, Phaolô xác tín rằng: quyền năng của Đức Kitô mạnh hơn quyền năng gây ra chết chóc của tội lỗi: ‘Ở đâu tội càng nhiều, ở đấy ân sủng càng chan chứa’ (Rm 5,20); ‘Ôi thần chết, chiến thắng của ngươi đâu?’ (1Cr 15,55).
5/ Có thể xem khái niệm ‘tội thọ sinh’ (tình trạng tội bẩm sinh) đồng nghĩa với một khái niệm đang phổ biến hiện nay là tội tập thể không? Tôi xin thú nhận là tôi chưa thấy rõ vấn đề ấy. Tuy nhiên có thể trả lời vừa có vừa không.
, nếu hiểu ‘tội thọ sinh’ là một cơ cấu chi phối con người trong xã hội. Theo nghĩa này, tội thọ sinh là thân phận chung, là tình trạng tội lỗi chung, nghĩa là tình trạng con người khước từ Thiên  Chúa và vì thế chính bản thân mình bị vong thân. Tình trạng ấy mỗi lúc lại trầm trọng thêm do những hoàn cảnh tội lỗi của mỗi cá nhân trong một cộng đoàn hay xã hội nào đó.                           
Không, nếu hiểu ‘tội thọ sinh’ là một tình trạng có từ khi mới sinh ra. Để tránh mơ hồ có thể gây hại, ta phân biệt: tội tập thể trước hết là một hành vi đoạn tuyệt với Thiên Chúa của cả một tập thể vào một thời điểm nhất định nào đó trong lịch sử. Chẳng hạn, khi cả một tập thể nọ cố tình không tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống lại một hình thức phân biệt chủng tộc, đây chính là tội tập thể. Trong trường hợp này, có thể nói tội tập thể là mặt trái của sự hiệp thông các thánh, mỗi người đồng loã để quay về sự vong thân của cộng đoàn . Đó là trường hợp dân Israen thờ bò vàng ngày xưa (Xh 32). Tuy nhiên, đừng quên rằng nếu là một hành vi phạm tội, tội tập thể không bao giờ có, khi cá nhân đã không đích thân đưa ra một quyết định nào đó tự mình. Như thế, nếu hiểu cho chặt, tội tập thể luôn luôn là do các tội cá nhân kết hợp lại, dù tội tập thể không phải là tổng cộng các tội cá nhân, và có mặt một cách đặc biệt trong xã hội. Vì thế không thể dùng khái niệm tội tập thể để phủ nhận hay làm gia tăng quá đáng trách nhiệm bản thân của mỗi người. Nhìn nhận có tội tập thể, là đồng thời nhìn nhận những trách nhiệm riêng của mỗi người trong việc tạo ra tội ấy. Nếu vậy khi dạy giáo lý và cử hành các nghi thức sám hối, phải tránh gây ngộ nhận đó bằng cách hãy chọn những từ ngữ khác nhau để nói về những hành vi kéo theo trách nhiệm của cá nhân hay của cộng đoàn (hoặc và của cộng đoàn), và để nói tới những tình trạng chung do các hành vi ấy gây ra. Mỗi Kitô hữu phải phân biệt rõ ràng điều đó để có thể nhận định về lòng trung thành của mình đối với Chúa.
Tác giả: Xavier Thévenot 
http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=347&ict=3852

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét