Trong phần cuối cùng này chúng ta sẽ xem xét vài điểm mốc rút ra được khi nhìn tội theo quan điểm Kitô giáo. Tuy nhiên, để có thể nắm được nét độc đáo của quan niệm đó, và để tránh những sự lẫn lộn có thể có giữa các hình thức tội, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu khái quát nguồn gốc sinh ra ý thức về tội. Lúc đó ta sẽ thấy rõ khái niệm tội là một khái niệm rất độc đáo và chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi xét trong quan hệ của con người với Thiên Chúa.
I. VÀI SUY NGHĨ VỀ Ý THỨC TỘI
Ý thức về tội là gì? Đó là một thực tế bên trong tâm lý làm cho lương tâm ta có cảm tưởng như bị một sức mạnh gì đó đè nặng, ta cảm thấy như có một vết thương do sự hối hận dày vò gây ra và có cảm tưởng như đang đứng trước một toà án nội tâm chờ nghe xét xử và chịu phạt. Chính vì thế, ý thức về tội luôn luôn có kèm theo một tiếng gọi nội tâm kêu mời ta sửa chữa. Các nhà tâm lý học, nhất là các nhà phân tâm, rất lưu ý tới nguồn gốc phát sinh ra ý thức về tội. Một số người đã cho biết ý thức ấy có một nguồn gốc rất xa xưa: ý thức ấy có liên hệ với những cảm giác dễ chịu hay khó chịu mà đứa bé nào cũng cảm thấy khi chào đời được ít tháng. Tuy nhiên, nhiều vị khác cho rằng ý thức ấy chỉ có khi con người biết rằng mình đã không đáp lại một ước muốn của người khác, một ước muốn có giá trị như một mệnh lệnh, một quy luật. Trong trường hợp đó, ý thức về tội chẳng qua chỉ là một hình thức biểu hiện sự lo âu vì chẳng những không còn được đối tượng của mình yêu thương mà thậm chí còn bị công kích nữa. Một nhà phân tâm nổi tiếng là bà Mélanie Klein đã tiến hành các nghiên cứu của mình theo chiều hướng đó. Theo bà, ý thức về tội bắt đầu xuất hiện là do đứa trẻ vừa khao khát chiếm lấy mẹ vừa sợ bị trả thù.
Còn Freud cho rằng ý thức về tội chỉ có mãi sau này, khi đứa trẻ bước vào thời kỳ mặc cảm Oedipe. Trong thời kỳ này (từ 3 đến 6 tuổi) đứa trẻ bước vào một trò chơi rất phức tạp: quan hệ với cha mẹ vừa yêu thương vừa chống đối nó. Sự xuất hiện của người cha và những lời cấm đoán của ông làm đứa trẻ hiểu rằng nó phải vĩnh viễn rời bỏ đối tượng yêu thương đầu tiên của mình, tức là mẹ nó. Sự cấm đoán căn bản của người cha đó, cùng với nhiều sự cấm đoán khác của cha mẹ và văn hoá, sẽ được đưa sâu vào nội tâm đứa trẻ, làm thành một hệ thống giám sát mà Freud gọi là siêu ngã. Hệ thống này hoạt động theo 2 cách. Trước hết như một toà án sẵn sàng kết tội; và như một lý tưởng đề ra cho đứa trẻ. Nếu vậy, theo Freud, tội chẳng qua chỉ là nỗi lo sợ khi đứng trước cái siêu ngã đang tìm hết cách đè nén xuống các ước muốn bị các nhà giáo dục cấm đoán đề ra. Như thế, ý thức về tội là một cách cho thấy nỗi lo lắng về hình phạt cũng như lo sợ bị người yêu bỏ rơi.
Có nhiều điểm trong lý thuyết này đáng lưu ý.
Trước hết, Freud nhận xét có thể có ý thức về tội một cách vô thức: một kiểu nói hơi lạ vì làm sao đã có cảm thức hay ý thức mà còn vô thức? Thật vậy, đương sự có ý thức về một ‘vết thương day dứt’ nơi tâm hồn mình hay một sự khó chịu nào đó trong tâm lý. Nhưng đương sự không ý thức rằng sự khó chịu ấy là do tội mình. Thậm chí trong những trường hợp tâm bệnh, nhiều người bị ‘vết thương’ ấy dày vò đã cố tình làm một hành vi phạm pháp chỉ nhằm mục đích làm sao để thấy được nguyên nhân đã khiến mình bất an. Lúc đó, thật ngược đời, tình trạng có tội lại là nguyên do đưa đến tội!
Thứ đến, ý thức về tội có chiều kích xã hội ở chỗ văn iminh xã hội thường lợi dụng tình trạng con người tự chống đối mình để bảo vệ sức mạnh của xã hội trong chừng mực có thể chấp nhận được. Đây là điều có lẽ ta hay thấy trong cuộc sống: chính áp lực xã hội đã góp phần làm tăng ý thức về tội nơi ta và như thế đã quay tính gây hấn của ta chống lại ta thay vì hướng ra ngoài.
Sau cùng, - đây cũng là đều quan trọng đối với những suy tư của ta về tội – tình trạng lo âu về tội không trực tiếp hướng ta tới người khác nơi chính bản thân họ. Mà đúng hơn, nó phản ảnh một cuộc xung đột trong chính nội tâm của ta. Có thể nói, tình trạng có tội như đang diễn ra trước tiên giữa tôi và chính bản thân tôi. Chính vì thế, các nhà tâm lý cũng như các bậc thầy tu đức thường lưuy ý: trong ý thức tội hay tình cảm hối hận vẫn còn dấu vết khá đậm của sự tự ái.
II. TỘI: MỘT Ý NIỆM THẦN HỌC
Đặc điểm của ý thức về tội như vừa mô tả hệ tại ở chỗ, đó là một thực tại thuần tuý bên trong tâm lý, nghĩa là tha nhân (anh em tôi hay Thiên Chúa) chỉ xuất hiện trong ý thức đó dưới hình thức là một đối tượng đã được đưa vào nội tâm, không cần biết bên ngoài tha nhân ấy có hiện hữu thật sự không.
Quan điểm của Kitô giáo về tội đi ngược hẳn quan niệm vị kỷ ấy (lấy cái tôi làm trọng tâm). Quả thế, Mạc khải dạy rằng tội không phải là ‘chuyện’ giữa tôi với bản thân tôi, mà là một thực tại có đụng chạm trước tiên tới ’Người khác’, Người khác này là chính Thiên Chúa. Như vậy, ý niệm tội là một ý niệm thần học đúng nghĩa. Tội là một thực tại có Chúa làm trung tâm (théocentrique), hay đúng hơn, là một thực tại đẩy Chúa ra khỏi trung tâm (théo – excentrique), vì khi phạm tội người ta tìm cách đẩy Chúa ra khỏi trung tâm. Ta hãy giải thích điều này.
A. Tội là đối tượng của mạc khải
Tội là một thực tại liên hệ đến quan hệ của ta với Chúa. Nói cách khác, giả như không có Thiên Chúa thì cũng không có tội đúng nghĩa, mà chỉ có những lỗi đi ngược lại các đòi hỏi luân lý, là những con đường giúp người ta làm cho mọi sự trở nên nhân bản.
Như vậy, phải coi tội như một sự xâm phạm tới quan hệ giữa Thiên Chúa và ta, một hành vi cản trở ta tiếp nhận chính Chúa như Người muốn dâng hiến cho ta được sống. Vì thế, tự bản chất tội là đối tượng của mạc khải, ít ra khi hiểu mạc khải theo nghĩa rộng. Như vậy, nếu ta chỉ biết Thiên Chúa trọn vẹn trong cội nguồn và chóp đỉnh của Mạc khải tức là trong Ngôi Lời nhập thể, thì hiển nhiên ta cũng chỉ biết tội đầy đủ khi nhận biết Đức Giêsu – Kitô. Rốt cuộc hiểu được mức trầm trọng của tội và nắm được sự thật về Đức Kitô là hai việc đi đôi với nhau. Nói đến tội là ta lập tức nhớ tới một Nhân vật khác, một phía khác ta tận gốc, một Thiên Chúa không thể định tên định tuổi, một Thiên Chúa ghen tỵ với mọi ngẫu tượng mà con người đặt lên thay Ngài.
Trong Cựu ước, người ta đã mau chóng nhìn tội qua một phạm trù rất căn bản, một phạm trù cho thấy rất rõ phía người bên kia: đó là phạm trù Giao ước. Theo Kinh thánh, phạm tội là không chịu trở về với Giao ước của Giavê, dù biết đó là nguồn hạnh phúc của nhân loại, và là hành vi tôn vinh Thiên Chúa rất đẹp. Có liên quan với một tha nhân (= nội dung của ý niệm tội), điều đó còn được Cựu ước diễn tả qua nhiều hình ảnh vay mượn ở nhưng kinh nghiệm của con người về sự thân mật gần gũi với người khác như kinh nghiệm cha con hay mẹ con và đặc biêt, kinh nghiệm vợ chồng.
Thử đọc một vài bản văn Kinh thánh: Is 64,7-8 mô tả tội là sự vô ơn của con đối với một người cha hằng ưu ái mình; Is 49,15 giới thiệu Thiên Chúa là một nhân vật có một tình yêu như của bà mẹ không thể nào quên đứa con mình đã mang nặng đẻ đau; Hs 2 trình bày tội là sự bất trung đối với tình yêu của một người chồng hết sức yêu thương. Như vậy, ngay từ trong Cựu ước, tội đã ám chỉ một sự xâm phạm tới quan hệ yêu thương giữa hai nhân vật có thể bị xúc phạm.
Dòng suy tư này sẽ được Tân ước lấy lại và khai triển. Trong Tân ước, rốt cuộc Thiên Chúa đã được gọi đích danh là Tình yêu. Nếu vậy, tội rõ ràng là sự xúc phạm đến Chúa, lang quân của Giáo hội, xúc phạm đến Thiên Chúa Tình yêu. Như thế, chỉ khi nhìn trong ánh sáng tình yêu (điều này, ta chỉ làm được do ơn Chúa Thánh Thần) ta mới thấy hết tầm mức của tội với những hậu quả xa nhất của nó. Tội đúng là đối tượng của mạc khải. Tuy vậy, có điều lạ là ta không bao giờ hiểu biết về tội một cách đầy đủ cả. Điều này có nghĩa gì?
B. Ta không bao giờ hiểu biết đầy đủ về tội
Một trong những vấn nạn làm các Kitô hữu bận tâm nhất là: làm sao biết mình đã phạm tội? Đây là một trong những điều nghịch lý lớn nhất trong thần học về tội. Thật vậy, tôi chỉ có thể là tội nhân khi tôi khước từ giao ước với Thiên Chúa, một cách tự do và sáng suốt; khi tôi cố tình và biết rõ mình đang đặt một ngẫu tượng thay thế Chúa. Thế nhưng, Truyền thống cũng luôn luôn khẳng định rằng hành vi tội lỗi nào cũng bị chi phối bởi một hay hai hình thức ngộ nhận về phía chủ thể phạm tội. Và đây chính là sự nghịch lý: một đàng tôi phải biết mình đang phạm tội thì mới gọi là có tội, nhưng đàng khác, tầm hiểu biết của tôi về tội thật giới hạn, không bao giờ đầy đủ cả. Ta hãy tìm hiểu hai hình thúc ngộ nhận và nghịch lý do chúng kéo theo.
a/ Ngộ nhận phần nào về những hậu quả do tội tôi mang lại và về tầm mức nặng nề khách quan của tội ấy
Như tôi vừa nói, tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa bằng cách xúc phạm đến tạo vật của Người. Vì thế theo logíc chỉ mình Thiên Chúa mới biết Người đã bị xúc phạm ở chỗ nào, thế nào và tới mức nào. Nói thế có nghĩa là anh em tôi và Thiên Chúa giữ một phần hiểu biết về tội của tôi.
Thử lấy một thí dụ để thấy rõ hơn những điều ta vừa nói. Giả sử trong khi thuyết trình, tôi muốn công kích một thính giả đang có mặt tại chỗ, bằng cách cố tình đưa ra một lời giễu cợt ác ý nhằm làm người ấy đau khổ; nhưng người ấy lại không chú ý lắng nghe tôi. Rõ ràng ở đây tôi đã phạm tội vì tôi đã cố tình làm khổ người khác. Thế nhưng, có thể lúc tôi buông lời chế giễu, đương sự không hề chú ý và vì thế rất ít cảm thấy bị xúc phạm. Ngược lại, nếu như lời giễu cợt ấy rơi đúng một vùng tâm lý hết sức nhạy cảm, đánh thức dậy những kinh nghiệm bị khiển trách đã từng xô đẩy và vùi dập người ấy hồi còn nhỏ, thì quả thật sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể trong nhân cách của người ấy, một điều nằm ngoài dự đoán của tôi. Và như vậy, phần nào tôi đã không nắm hết tầm mức nghiêm trọng khách quan của hành vi tội lỗi mình vừa làm. Chỉ người bị xúc phạm bởi hành vi ấy mới có thể cho tôi biết mình đã bị thương tổn tới mức nào.
Như thế, nếu xúc phạm anh em tôi là đã xúc phạm đến Chúa, thì xét cho cùng chỉ Thiên Chúa, đấng bị ‘tổn thương’ trong kế hoạch yêu thương của mình, mới có thể biết đầy đủ về tội của tôi. Bởi vậy, Phaolô đã nói: ‘Chỉ có Chúa là đấng xét xử tôi’ (1Cr 4,4), dù Phaolô biết rằng ‘lương tâm tôi không khiển trách tôi điều gì’.
Chính vì thế, ta chỉ có thể hiểu hết tầm mức của tội qua trung gian của Giáo hội, nơi cưu mang Lời Chúa. Lời Chúa vốn là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi, xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người’ (Dt 4,12). Sau này chúng ta sẽ trở lại với vấn đề vai trò của Mạc khải trong việc khám phá ra tội. Tuy nhiên, ngay bây giờ ta có thể lưu ý là cộng đoàn Giáo hội cũng đóng một vai trò khá quan trọng trong việc khám phá đó. Vai trò ấy thường được thể hiện qua hai chức năng tuy liên hệ với nhau chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau:
- Chức năng ngôn sứ.
Chúng ta đã có một thí dụ khá rõ về chức năng này qua câu chuyện thời danh kể lại việc ngôn sứ Nathan dùng một dụ ngôn nhỏ để giúp Đavít nhận ra tội mình (2S 12). Tuy đã phạm tội nặng vì đẩy tình địch vào chỗ chết hầu có thể ngoại tình với vợ người ấy, nhưng Đavít không hề cảm thấy mình có tội. Phải nhờ đến lời lẽ của ngôn sứ Nathan, ông mới khám phá ra hết tầm mức nặng nề của tội mình đã phạm.
Các ngôn sứ phải luôn luôn phải thi hành chức năng cật vấn ấy trước đám dân Israen và các vua chúa đã chai lì trong tội. Ngày nay, giữa một xã hội có khuynh hướng lẫn lộn lòng từ tâm thương xót với việc cho phép dễ dãi, ta rất cần đọc lại một số đoạn Cựu ước đanh thép, như Ed 3,17-19 chẳng hạn, trong đó thiên Chúa bảo ngôn sứ Êdêkien: ‘Êdêkien, này Ta đặt ngươi làm kẻ trông coi Israen. Nếu ngươi không cảnh cáo người dữ từ bỏ tội ác, chính người dữ ấy sẽ chết, nhưng Ta sẽ đòi máu người ấy nơi ngươi’. Tất cả chúng ta hiện nay, do phép Rửa tội, đã được đặt làm người ‘trông coi’ cộng đoàn Kitô hữu và cộng đoàn nhân loại. Vì thế chúng ta có bổn phận thi hành chức năng ngôn sứ dưới một hình thức nào đó và phải là người loan báo Lời Chúa với tất cả những đòi hỏi của Lời ấy; một lời vừa kêu gọi mọi người quy tụ lại vừa thôi thúc người ta hoán cải. Dĩ nhiên, nếu không muốn gây hại hơn là làm phúc, ta phải loan báo Lời tiên tri ấy với một tâm hồn khiêm tốn và nhất là phải uyển chuyển trình bày tuỳ theo mỗi tình huống cụ thể. Nếu không, thay vì giải thích và thôi thúc người ta tìm về một tương lai mới, Lời ấy lại đè bẹp họ bằng không biết bao nhiêu là đòi hỏi vô phương thực hiện (cf. X. Thévenot, ‘L’aide non directive, une démission éthique?’, trong cuốn ‘Repères éthiques pour un monde nouveau’, Salvator, 1972, pp. 110-122).
- Việc sử sai huynh đệ (Lc 17,3; Mr 18,15-17).
Điều này đã được mô tả rõ ràng trong Tân ước: ‘Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy sửa chữa nó’. Bởi vì tội nào cũng xâm phạm tới Thân thể của Đức Kitô, tức là Giáo hội. Thế nên, cộng đoàn có quyền và có bổn phận phải cho các thành viên của mình biết những cung cách sống bị cho là tội lỗi của họ có thể đang cản trở Dân Chúa trong nỗ lực đón nhận Nước Trời. Ở đây, dĩ nhiên cũng phải suy nghĩ cẩm thận về cách sử sai huynh đệ, kẻo việc ấy làm tổn thương hay thậm chí làm hỏng cả những con người đó.. Một số người đã sa ngã vào những tội bất trung đối với các lời cam kết của mình rất có thể đã cải tà quy chánh, nếu trước đó họ gặp được một anh chị em giúp họ thấy rõ vấn đề hơn và ăn năn hối cải. Mỗi người chúng ta phải tự hỏi xem mình đã thực hiện việc sử sai huynh đệ thế nào và có bao giờ từ chối làm việc này không.
b/ Ngộ nhận về mức độ trách nhiệm của mình
Muốn hiểu tại sao phải nêu ra hình thức ngộ nhận thứ hai này, ta cần nhớ lại quan điểm rất trùng hợp với suy tư triết học hiện nay. Thật vậy, Kinh thánh phân biệt tâm hồn với những hành động của con người. Tâm hồn là nơi đưa ra những lựa chọn quyết đĩnh (Mr 22,37; 1Cr 7,37) và gặp gỡ Chúa (Mt 13,19). Tâm hồn hướng bên nào, điều đó được biểu lộ qua những hành động. Tuy nhiên, không có một hành động nào cũng như dù tổng cộng hết các hành động, ta cũng không thể diễn tả hết những gì chất chứa trong tâm hồn. Như thế, tâm hồn và hành động đi đôi với nhau, nhưng vẫn khác nhau và không thể đồng hoá cái này với cái kia một cách trọn vẹn.
Nói theo triết học hiện đại, tâm hồn là nơi để cho khả năng căn bản tự do của ta đưa ra sự lựa chọn tận căn theo hay chống lại Thiên Chúa, một sự lựa chọn lôi kéo con người chúng ta một cách toàn diện như một đơn vị thống nhất. Thế nhưng sự lựa chọn tận căn ấy chỉ được thể hiện ra ngoài qua những hành vi cá biệt, những hành vi này không thể nào diễn tả hết sự tự do lựa chọn căn bản của ta. Sự tự do trong tâm hồn con người đặt nền tảng cho các hành vi cá biệt, được diễn tả qua các hành vi đó, nhưng đồng thời cũng vượt lên trên những hành vi ấy.
Theo tôi, phân biệt tâm hồn với hành động như thế sẽ giúp ta hiểu sự phân biệt của Tân ước giữa tội và các tội. Chẳng hạn thánh Gioan hầu như luôn luôn nói đến tội ở số ít (hamartia). Thậm chí ngài còn quả quyết (1Ga 3,4): ‘Phạm tội tức là chống lại luật Chúa’ (anomia), nghĩa là kiêu ngạo khước từ Chúa, khước từ Thiên Chúa cứu độ mình. Còn Phaolô, phỏng theo các tác giả đương thời, ưa đưa ra danh sách các tội (1Cr 6,10). Thế nhưng, ngài cũng cho biết rằng tất cả những tội ấy đều là hậu quả của một tội duy nhất là cố tình từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa Tạo hoá mà trên nguyên tắc, ai cũng có thể nhận ra (Rm 1,18-31 và 5,12-17). Phaolô còn nhấn mạnh tới chữ tội theo nghĩa này, đến nỗi coi đó như một sức mạnh đã được nhân cách hoá.
Khi tâm hồn ai đó đã bị sức mạnh của tội lỗi uốn nắn, hay nói cách khác qua sự lựa chọn căn bản của mình, người đó đã quay lưng với Thiên Chúa, thì Truyền thống Kitô giáo nói kẻ ấy đã phạm ‘tội nặng’. Đây cũng là trường hợp duy nhất đáng gọi là tội. Còn chữ tội trong kiểu nói ‘tội nhẹ’ đã được dùng theo nghĩa loại suy: đó là một sự tùng phục thánh ý Chúa nhưng chưa trọn vẹn hay là một sự dừng lại trên đường tiến về với Tạo hoá chứ chưa hẳn là đoạn tuyệt với Người. Đa số các Kitô hữu ngày nay cảm thấy khó chịu với kiểu nói ‘tội nặng’ hay ‘tội nguy tử’ (péché mortel), vì thế ta cũng nên suy nghĩ qua về kiểu nói này.
Theo ý tôi, nếu nói chuyện với những người có khả năng hiểu và tiếp nhận kiểu nói ấy một cách bình tĩnh, không lo lắng thái quá, thì có lẽ phải dùng kiểu nói ấy, vì hai lý do:
- một lý do rút ra từ Truyền thống. Đành rằng mấy chữ ‘tội nặng’, ‘tội nguy tử’, ‘tội nhẹ’ không có y nguyên như vậy trong Thánh kinh, nhưng trong Thánh kinh thật sự có phân biệt giữa hai loại tội. Chẳng hạn theo Phaolô, có những tội loại ta ra khỏi Nước Chúa (Gl 5,19tt; 1Cr 6,9tt). Cũng thế, thánh Gioan bảo rằng từ chối yêu thương là đã chấp nhận ở lại trong sự chết (1Ga 3,15). Còn Đức Giêsu thì phân biệt cái dằm với cái đà trong mắt người này, người kia. Nhân khi nói về việc thứ tha các lỗi phạm, Người cũng bảo phải cầu xin điều đó mỗi ngày như trong kinh ‘Lạy Cha’. Nếu vậy thì những lỗi phạm này hẳn không trầm trọng lắm! Còn Truyền thống phụng vụ, giáo phụ và thần học rất minh bạch: trái với một số quan điểm giáo lý lệch lạc, Truyền thống luôn khẳng định rằng không phải tội nào cũng giết chết quan hệ giữa ta với Thiên Chúa, nghĩa là có những tội không nặng bằng những tội khác, có những tội nhẹ.
- lý do thần học: tội là biểu hiện trong thực tế một năng lực giết chết. Như tôi đã nói nhiều lần, quan hệ giữa ta với Thiên Chúa bị giết chết, điều ấy luôn được biểu lộ qua sự tan vỡ trong các quan hệ của con người với nhau.
Rốt cuộc, phải chăng sở dĩ chúng ta từ chối không muốn dùng hai chữ tội nặng hay tội ‘nguy tử’, là vì chúng ta đang nô lệ một thứ ý thức hệ nổi bật trong xã hội ngày nay, đó là tìm cách che giấu sự chết? Một câu hỏi ít ra rất đáng cho ta suy nghĩ !
Sau khi suy nghĩ qua về vấn đề tội nặng, ta hãy trở lại với vấn đề của mình, đó là ta có nắm rõ tầm mức sâu xa của trách nhiệm mình đang phải chịu không. Như đã nói, về mặt này ta cũng luôn luôn ngộ nhận. Quả thế, tôi chỉ có thể biết những hành động bên ngoài của mình. Những hành động này lại là kết quả của cả hai thứ một trật: tự do của tôi và những hoàn cảnh sinh lý, xã hội đang chi phối tôi một cách sâu xa. Tôi không bao giờ hiểu được một cách chắc chắn tuyệt đối tâm hồn tôi đang hoàn toàn tiếp nhận và khước từ Nước Chúa. Vì tôi không tài nào phân biệt được một cách chính xác trăm phần trăm cái nào là do tôi đã tự do quyết định.
Nói như thế, tôi chỉ nhắc lại giáo lý rất cũ của Truyền thống mà thánh Tôma đã tóm tắt như sau: ‘Không ai biết được một cách chắc chắn mình đang sống trong ân sủng hay không’ (S. Th. Ia, IIae, 112,5) (cf. 1Cr 4,4). Công đồng Trentô cũng lấy lại giáo lý đó (Dz 1534. FC, 568): ‘Không ai có thể biết một cách chắc chắn không thể sai lầm rằng mình đã được ơn Chúa’. Một vị thánh lớn như Jeanne d’Arc cũng đã hiểu rõ điều đó nên mới trả lời cho những kẻ tố cáo mình: ‘Quý vị hỏi tôi có đang sống trong tình trạng ân sủng không à? Tôi xin thưa: nếu có thì xin Chúa tha cho tội kiêu ngạo của tôi, nếu không thì xin Chúa hãy cho tôi được như vậy’.
Như vậy, muốn phê phán tội ta nặng nhẹ tới mức nào, ta đành phải có lời giải thích về những hành vi cá biệt của mình. Những hành vi này sẽ được coi là những dấu hiệu ám chỉ tình trạng của tâm hồn ta. Thánh Tôma đã không ngần ngại dùng từ ngữ ‘ức đoán’ để chỉ sự hiểu biết của ta về tội lỗi. Ngài nói: ‘một người có thể nghĩ rằng mình đang sống trong ân sủng khi thấy mình đang tìm được hạnh phúc nơi Thiên Chúa’.
Nếu như vậy, đi vào cụ thể, làm sao đánh giá mức nặng nhẹ của tội mình đây? Trước khi đưa ra vài dấu chỉ cho biết mình đang mắc tội, theo tôi vài điểm mốc sau đây có thể giúp ta làm việc này:
Nếu những hành vi tội lỗi tôi đã làm là những hành vi tự nó hay theo khách quan là nặng hay nếu đó là những hành vi hình như tôi đã làm với khá nhiều tự do, thì rất có thể tâm hồn tôi lúc đó đã xa cách Chúa nhiều hay, như các sách giáo lý ngày xưa thường nói, tôi đã không còn ’sống trong tình trạng ân sủng’ nữa. Trong những trường hợp đó tôi biết chắc (sự chắc chắn theo luân lý) mình đã phạm tội nặng, đã phạm tội ‘chết được’, mình đã ao ước và đã thật sự giết chết quan hệ của mình với Chúa.
Ngược lại, một Kitô hữu cảm thấy ‘mũi nhọn của ý chí mình’ – một kiểu nói của các nhà tu đức – vẫn cắm sâu nơi Thiên Chúa; nói cách khác, một Kitô hữu cảm thấy cuộc sống của mình, xét trong toàn bộ, xét trong sư lựa chọn căn bản, vẫn phù hợp với Tin mừng; những Kitô hữu ấy có quyền tự hỏi phải chăng những ‘sa ngã’ thường xuyên của mình về một điểm nhất định nào đó (một điểm mình tỏ ra yếu đuối thật sự) đã là những lời từ chối tình yêu Thiên Chúa một cách nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, họ có thể tin chắc (chắc chắn theo luân lý) rằng những sa ngã ấy chỉ là những khuyết điểm, chứ không là tội đúng nghĩa, vì xét cho cùng trong những hành vi đó sự tự do sâu xa của họ chưa tham gia thật. Quả thế, không dễ gì lúc nào cũng phạm tội ‘đáng chết’, bởi vì tình yêu Thiên Chúa luôn ‘làm việc’ nơi những người vẫn giữ được sự chọn lựa căn bản tốt đẹp của mình. Vì thế, theo tôi, cuộc đời của những Kitô hữu biết cầu nguyện, liên kết với Giáo hội và vẫn nỗ lực sống yêu thương có lẽ có rất ít tội nặng. Tuy nhiên, tôi xin lưu ý hai điểm:
a/ Lưu ý thứ nhất dựa vào một đoạn trích trong văn kiện ‘Persona humana’ của Toà thánh đề cập tới khoa đạo đức tính dục (số 10), ban hành năm 1976. Văn kiện này đã có lý khi nhắc lại rằng dù ‘sự lựa chọn căn bản xét cho cùng mới là cái xác định tình trạng luân lý của một người, nhưng sự lựa chọn căn bản ấy có thể bị thay đổi hoàn toàn do những hành vi cá biệt; và thông thường sự viêc ấy được chuẩn bị trước bằng những hành vi hời hợt hơn. Dù sao, đừng cho rằng một hành vi cá biệt thôi không đủ để phạm tội nặng. Vì thế, theo văn kiện này, ‘người ta phạm tội nặng không phải chỉ khi nào hành vi của mình xuất phát từ lòng khinh bỉ trực tiếp đối với Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, mà cả khi vì một lý do nào đó người ta cố tình và tự nguyện lựa chọn một điều đã lệch lạc và sai hỏng nặng nề’. Như vậy bản văn này nhắc ta nhớ rằng có những hành vi quan trọng (có thể xác định ngày tháng dễ dàng) tới mức liên hệ sâu xa tới sự lựa chọn căn bản của ta và báo hiệu sự lựa chọn của ta đã bị thay đổi.
b/ Điểm thứ hai cần nhớ là ta không bao giờ đoạn tuyệt với Thiên Chúa cũng như giao hảo thân mật với Thiên Chúa một lần là xong.
Về điều này, nên nhớ lại một lời Cựu ước: ‘Nếu người công chính bỏ sự công chính của mình mà làm điều ác (…), người ta sẽ không còn nhớ tất cả những sự công chính kẻ ấy đã thực hành nữa’ (Ed 18,24). Ngược lại, ‘nếu người gian ác từ bỏ tất cả những tội mình đã phạm (…), nó sẽ không phải chết’.
Khi khẳng định con người không bao giờ đoạt được cả điều tốt lẫn điều xấu một lần vĩnh viễn, những câu Kinh thánh ấy đã bảo vệ ta khỏi thái độ Pharisêu và tham vọng muốn trở thành kẻ vạn năng về tội ác. Lời Chúa đã đánh tan tận gốc mọi toan tính kiêu ngạo muốn mình được hoàn thiện ngay tức khắc (như Thiên Chúa) hay được xấu xa ngay lập tức (như ma quỷ). Phải, ta luôn luôn có khả năng phạm tội và hoán cải; đó là một lời nhắc nhở rất hay về thân phận hữu hạn của ta!
Để kết luận, vì hai sự hiểu lầm trên đây có ảnh hưởng đến tội lỗi của chúng ta, nên ta thường thấy thật không thoả đáng lắm khi đòi dò xét cho tới cùng trách nhiệm của con người trong tội. Đôi khi việc dò xét này cũng có lợi cho những người phạm tội: nó giúp những người ấy phân tích kỹ lưỡng hơn những động cơ đã dẫn họ tới chỗ phạm tội, nhất là giúp họ dám chịu trách nhiệm chính bản thân mình hay anh em mình. Nhưng thông thường hơn, công việc dò xét ấy, sự nhận định phê phán về tầm mức tội lỗi của một hành vi phản ảnh thái độ tự ái của đương sự: đương sự tìm cách tự hào trong tình trạng khốn nạn và hèn hạ của mình, hay thậm chí tìm cách bào chữa cho mình trước mặt Chúa. Đàng khác, thái độ ấy gián tiếp cho thấy đương sự nhìn Thiên Chúa thế nào? Đó là một Thiên Chúa rất giống với Thiên Chúa của Cain hay của các thẩm phán tại các phiên toà, tìm đủ cách để vạch ra trách nhiệm của con người hầu áp dụng các hình phạt đã được tiên liệu trước trong các bộ luật hình sự!
Trong Tin mừng, đọc lại những lần Đức Giêsu gặp gỡ các tội nhân và tha thứ cho họ, ta thấy rõ Đức Giêsu dường như không bận tâm lắm tới việc xưng thú chi tiết tội lỗi. Chẳng hạn khi tha tội cho người bại liệt hay cho người đàn bà ngoại tình, hoặc cho một phụ nữ tội lỗi đến lấy dầu thơm xức chân Chúa. Đối với Người, điều quan trọng không phải là kể lể chi tiết các tội, mà là tâm hồn của tội nhân có nhận ra Người là Đấng thương yêu, Đấng có thể giải thoát ta nhờ tình thương của Người không.
III. NHỮNG DẤU HIỆU CHO BIẾT TA CÓ TỘI – SỰ HÀM HỒ CỦA NHỮNG DẤU HIỆU ĐÓ
Để kết thúc loạt bài tìm hiểu vắn tắt về tội, tôi muốn xem lại một số ‘phương cách’ người Kitô hữu có thể dùng để biết tổng quát mình có còn được Chúa thứ tha vì hành vi này hành vi nọ không, nghĩa là mình đã phạm tội hay chưa. Chúng ta sẽ nhìn lại năm tiêu chuẩn có thể được coi là những dấu hiệu cho biết tình trạng bất hoà giữa ta với Chúa. Nhưng đây cũng chính là điểm khó khăn: mỗi tiêu chuẩn ấy đều có tính cách hàm hồ tận căn. Vì thế mỗi Kitô hữu cần nhận thức rõ mỗi tiêu chuẩn ấy có liên hệ với tội như thế nào.
1. Dấu hiệu thứ nhất: sự quá phạm
Qua kiểu nói này tôi muốn diễn tả hành vi một người vượt quá một lệnh cấm, một quy tắc đạo đức hay một luật lệ xã hội. Tội và sự quá phạm có tương quan thế nào, điều này cũng rất khó nói. Tuy nhiên, có thể tóm tắt như sau: tội nào cũng là một sự quá phạm, nhưng không phải sự vi phạm nào cũng là tội.
Tội nào cũng là một sự vi phạm. Quả thế, như đã thấy ở các bài trướoc, tội là một sự vi phạm lề luật căn bản của cuộc sống do Chúa đặt ra. Ngược lại, không phải sự vi phạm nào cũng là tội. Tại sao? Vì những lý do sau:
- Trước hết, có thể sự vi phạm của một người nào đó là do vô tình, không cố ý. Người ta sẽ nói: sức lực đẩy người ấy vi phạm ‘mạnh hơn người ấy’. Lúc đó hành vi ấy chỉ là một sự yếu đuối không có tội, dấu hiệu cho biết thân phận hữu hạn của đương sự.
- Cũng có thể người ấy không biết có luật cấm đó trong lãnh vực này lãnh vực nọ, hoặc người ấy nghĩ rằng vi phạm luật luân lý này luật xã hội nọ không ảnh hưởng gì lắm tới quan hệ của họ với Chúa. Lúc đó ta gặp tình trạng mà các nhà thần học luân lý ngày xưa gọi là ‘vô tri không do mình’. Chẳng hạn, một thiếu niên cả đời lớn lên và được giáo dục trong môi trường Đức quốc xã đinh ninh rằng truy bắt người Do thái là điều đúng, điều tốt. Vì thế khi làm thế, dù đó là một điều rất xấu về mặt khách quan, trước mặt Chúa vẫn không phải là tội vì anh ta không biết mình đang làm điều xấu, do điều kiện xã hội chi phối. Một thí dụ khác: ngày nay nhiều người gian lận thuế khi bị kiểm tra hay khi làm ăn buôn bán không ý thức rằng đó là một đều xấu. Trong những trường hợp đó, quả thật có một điều xấu khách quan đã được thực hiện, nhưng không phải là tội. Dĩ nhiên khi khẳng định nghe theo tiếng lương tâm, dù là lương tâm đã được huấn luyện sai, chẳng những không phải là tội mà còn là bổn phận, thần học không cố ý kêu mời mọi người theo chủ trương phóng túng. Vì cũng chính thần học quả quyết ta có thể phải chịu trách nhiệm về tình trạng sai lầm hay thiếu giáo dục của lương tâm và bằng mọi cách phải luôn luôn lo sao cho lương tâm được sáng suốt như nhờ lắng nghe Lời Chúa, nhờ cộng đoàn Giáo hội và anh em.
- Cũng có thể một lệnh cấm do xã hội hay kỷ luật Giáo hội đặt ra tự nó đã phi nhân bản. Lúc ấy vi phạm lại là dấu chứng tỏ ta tuân phục Thiên Chúa, ta yêu mến Người. Một thí dụ cho thấy rõ điều này là trường hợp Đức Giêsu vi phạm những lệnh cấm của đạo Do thái quá nghiêm nhặt về việc lao động trong ngày Sabát. Dĩ nhiên những sự vi phạm của Đức Giêsu đối với luật này không phải là tội, mà trái lại còn là dấu cho thấy tình thương Ngài dành cho con người. Cũng chính vì thế Đức Giêsu đã phải nhắc lại luật được làm ra cho con người, chứ con người không sinh ra để cho lề luật. Như vậy, vi phạm đối với một số lề luật của Giáo hôi quá hẹp hòi hay một vài lệnh cấm của xã hội đặt ra không đúng chỗ, có thể hay thật sự là một dấu hiệu nói lên tình yêu thương. Điều đó kêu gọi chúng ta phải kiểm tra lại xem nền tảng của các tiêu chuẩn đạo đức đang có trong Giáo hội và xã hội.
- Sau cùng, có thể có trường hợp cần vi phạm một lệnh cấm để tôn trọng một lệnh cấm khác căn bản hơn. Đây là trường hợp được các nhà luân lý gọi là xung đột giữa các giá trị. Các đức giám mục Pháp đã đặt vấn đề như thế khi giải thích Tông huấn Humanae vitae của đức Phaolô VI về việc điều hoà sinh sản. Quả vậy, một cặp vợ chồng thường bị đặt trước nhiều giá trị mà họ có bổn phận phải bảo vệ, thế nhưng không phải tất cả các giá trị đó có thể thực hiên được chung một lúc. Vì vậy, phải xếp hạng các giá trị đang xung đột với nhau. Đôi khi để bảo vệ một giá trị tối quan trọng, ta đành phải vi phạm một lệnh cấm thì mới giữ được một giá trị khác. Chẳng hạn các đức giám mục Pháp lý luận: cũng đúng luân lý thôi khi một cặp vợ chồng đành phải sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo nếu thấy đó là phương pháp duy nhất có thể giúp họ bảo vệ sự quân bình trong hôn nhân và gia đình, vì những đều kiện tâm lý hay kinh tế của vợ chồng.
Dĩ nhiên, khi vi phạm một lệnh cấm của Giáo hội, phải đặc biệt lưu tâm thi hành trách nhiệm Kitô hữu của mình, nghĩa là thực hiện sự tự do thật của một người con Chúa. Tự do này không bao giờ có nghĩa là được phép muốn làm gì tuỳ ý, mà là biết quyết định trong Thánh Thần khi đứng trước tình trạng xung đột ấy. Các tiêu chuẩn để ta biết mình có trách nhiệm hay không đối với sự vi phạm đó, có thể là: đã quyết định trong bầu khí cầu nguyện, có suy nghĩ sâu xa, có tìm cách nhờ một thành phần của Giáo hội (linh mục, bạn bè hay cộng đoàn) xác nhận, và sau cùng luôn giữ sự khiêm tốn tối đa, tới mức có thể cuối cùng sẵn sàng nhìn nhận mình đã sai lầm.
Như thế, đã có vi phạm, đó là một dấu chỉ hết sức hàm hồ về tình trạng có tội hay không. Nhất là nếu biết rằng ngay từ khi con bé ai trong chúng ta cũng ước muốn được vạn năng và vì thế, như đã nói ở chương hai, ta thường lầm lẫn rất tai hại: lầm lẫn giữa khuyết điểm và tội lỗi.
Khuyết điểm là sự vi phạm không cố ý đối với một trật tự đã được luật xã hội hay những đòi hỏi luân lý tạo ra. Chẳng hạn: ham uống rượu, thủ dâm, nói lời công kích vì không kiềm chế được… Tất cả những hành vi này đều giống nhau ở chỗ không cố tình cố ý.
Có thể minh hoạ tình trạng ấy qua lược đồ sau đây:
Một sự vi phạm (chẳng hạn vả mặt một người khi nóng giận) có thể là kết quả của hai thực tại: hoặc đó là do một quyết định rất tự do của tôi. Trong trường hợp này có thể gọi đó là tội. Hay ngược lại là do sự giới hạn của mình nghĩa là do những hạn chế khiến tôi không làm chủ mình hoàn toàn được. Một số phản ứng của tôi thoát tầm kiểm soát của ý chí, chúng còn ‘mạnh hơn cả tôi nữa’. Trong trường hợp ấy không được gọi những sự vi phạm đó là tội, mà chỉ là khiếm khuyết.
Thật ra, ta cũng không cần đưa ra sự phân biệt phức tạp này, nếu bản thân con người không bị ám ảnh bởi ước muốn mình được vạn năng, như câu chuyện Ađam – Eva diễn tả một cách bóng bảy qua nỗi thèm khát đuợc ăn trái cấm.
Làm sao ước muốn vạn năng ấy có ảnh hưởng đến thái độ nhìn nhận hay từ chối mình là tội nhân? Có thể ảnh hưởng bằng hai cách, đôi khi xảy ra cùng một lúc.
Cách thứ nhất là cái lẽ ra chỉ là khiếm khuyết lại bị coi là tội lỗi. Quả thế, một số người có tâm lý khó chấp nhận mình không phải là chủ hoàn toàn của bản thân mìh. Chẳng hạn nhu có người bảo tôi: ‘Cha xem, đã nhiều năm con cố gắng giữ bình tĩnh với chồng con, nhưng lần nào con cũng quay ra giận dữ gắt gỏng anh ấy. Con đúng là người vô cùng tội lỗi’. Khi giúp người ấy suy nghĩ về diễn biến thật của những phản ứng đó, tôi đã giúp chị ta ý thức rằng sự tự do của chị đã can thiệp rất ít vào trong những phản ứng ấy, những cơn giận đó chỉ là kết quả của tình trạng bị giới hạn của chị, thay vì là kết quả của một ý muốn tội lỗi. Bấy giờ chị đáp lại: ‘Nếu con không lầm, thì nói như thế là cha đã bảo con hãy ý thức rằng con chưa thật sự phạm tội. Thế nhưng làm như vậy là cha đã lấy đi của con tất cả rồi!’
A! nếu vậy thì đương sự đã mặc nhiên thú nhận mình cũng tìm được một đôi điều hữu ich khi tự nhận mình có tội. Chị ta đã gián tiếp củng cố cái ước muốn mình được vạn năng và toàn quyền.
Thế nhưng bi kịch cũng có thể ngược lại. Có những người đã phạm tội một cách hoàn toàn tự do. Khi nhận thấy mình đã thích để bị vong thân hơn là chọn con đường đưa tới sự sống thật, họ cảm thấy như đang mang một ‘vết thương chạm đến tự ái của mình’. Họ cảm thấy bực mình, nhục nhã. Và để tránh vết thương đã làm méo mó hình ảnh đẹp đẽ họ từng có về mình, họ bèn cho rằng sở dĩ thế là vì chúng ‘còn mạnh hơn cả họ’; họ phủ nhận mình đã phạm tội bằng cách chỉ coi đó là những khuyết điểm.
Như vậy cần phải lưu ý đến hai bi kịch ám ảnh hết mọi người chúng ta, kẻ ít người nhiều. Nhất là khi bi kịch đó xảy ra trong mọi lãnh vực của cuộc sống, dù dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chẳng hạn, với một số người cách thứ nhất vừa nói ở trên hoạt động rất rõ, đặc biệt trong lãnh vực tính dục: họ thích tự nhận mình là người có tội hơn là coi mình đang có một số điểm bất bình thường. Nhưng cũng đối với chính những con người đó, trong lãnh vực đạo đức nghề nghiệp, cách ảnh hưởng thứ hai lại rõ hơn: để che đậy sụ thiếu liêm khiết hay bất công của mình, họ cho những hành vi của mình chỉ là thực hành theo ‘luân lý trong lãnh vực làm ăn sinh sống’.
Như đã nói khi đề cập đến khoa phân tâm học ở trên, ấn định chính xác phần trách nhiệm của mình không bao giờ là chuyện đơn giản cả. Tuy vậy, ta vẫn có thể nhận ra hành vi của mình một cách chủ yếu là biểu hiện của tình trạng bị giới hạn hay do sự tự do sai lầm của mình.
Sau cùng, lược đồ trên đây sẽ giúp ta hiểu được một số lệch lạc của thần học trong quá khứ. Quả thế, đã có một số nhà thần học quả quyết rằng tội của con người là nguồn gốc sinh ra mọi sự dữ trên thế gian, kể cả cái chết về mặt sinh vật. Theo họ, nếu không có tội thì cũng đã không có đau khổ, không có chết chóc. Còn tôi thì nghĩ rằng quy cho con người là nguồn gốc duy nhất của mọi sự dữ trên thế gian là đã gán cho con người một khả năng phá hoại quá lớn chỉ làm mạnh thêm cái ước vọng muốn toàn năng thôi! Trong những quan điểm thần học đó đều ngầm chứa một sự phủ nhận thân phận hữu hạn của con người. Thế mà đừng quên rằng con người hữu hạn cả trong khả năng làm điều thiện lẫn điều ác. Vì không thể đặt mình làm Thiên Chúa của điều thiện, nên thỉnh thoảng con ngươi mới tự phong mình là ‘thiên chúa’ của điều ác! Khi giải thích St 2 – 3 (câu chuyện Ađam và Eva), chúng ta đã thấy mình không thể phủ nhận những hạn chế của mình: câu chuyện Ađam và Eva dạy ta rằng con người không phải là Thiên Chúa mà cũng khôn phải là ma quỷ!
2. Dấu hiệu thứ hai: sự sai lệch
Ở đây tôi muốn hiểu sai lệch là đặt mình ở trong một tình trạng không phù hợp với một tiêu chuẩn đã được một tập thể nhân loại nào đó xưa nay hằng chấp nhận.
Tình trạng này có thể đưa đương sự tới hai loại phản ứng:
- một là có những tâm tình giả tạo về tội lỗi. Một khi đã đưa các tiêu chuẩn xã hội vào nội tâm mình, đương sự sẽ nghĩ rằng sự sai lệch của mình nhất thiết phải là tội và đi ngược với luân lý. Thay vì ý thức sự khác biệt của mình, đôi khi là sự khác biệt không thể nào xoá đươc, đương sự lại có khuynh hướng cho mình là có tội và một cách nào đó tìm cách thu hút sự chăm chú, thương xót và tha thứ của người khác. Như lúc nãy đã nói, ngày nay vì áp lực xã hội ta thường thấy nhiều người thích coi mình là có tội hơn là cho mình bất thường.
- tình trạng sai lệch cũng có thể đưa ta tới thái độ làm ngôn sứ giả. Đương sự cho rằng xã hội đã sai lệch chứ không phải mình và cách ứng xử của mình mới là chuẩn, còn cách ứng xử của đa số là bất thường.
Thật vậy, sai lệch và tội lỗi có liên hệ với nhau làm sao, điều này không dễ thấy. Sai lệch có thể là dấu hiệu cho biết đương sự muốn đoạn giao với Thiên Chúa: cố tình không chịu làm con người nhiều hơn bằng cách tuân theo những tiêu chuẩn của xã hội và Giáo hội là những tiêu chuẩn có sức giải phóng ta thật sự. Tuy nhiên cũng có thể sống trong tình trạng sai lệch như thế là dấu chứng tỏ ta đang muốn thể hiện những giá trị căn bản của Tin mừng (cf. chẳng hạn những người phản đối bất bạo động). Trong trường hợp này, sai lệch sẽ trở thành lời cật vấn có tính cách ngôn sứ đối với người khác. Cuối cùng có thể trong quá trình lịch sử cá biệt của mình, sau khi đã nhận định chín chắn, đương sự nghĩ rằng mình phải sống trong tình trạng sai lệch ấy vì đó là cách duy nhất để ra khỏi một bế tắc mà các thất bại trong quá khứ hay các khó khăn tâm lý đã xô mình tới. Tình trạng sai lệch ấy dĩ nhiên không thể được nâng lên thành tiêu chuẩn. Nhưng cũng rất có thể đó không phải là một tình trạng tội lỗi một cách chủ quan (chẳng hạn tình trạng của một số người ly dị nhưng đã tái kết hôn hay của một người loạn dâm đồng giới đã sống với nhau như vợ chồng). Dầu sao, để tránh đoạn giao với Thiên Chúa, muốn sống trong tình trạng sai lệch đương sự phải có ý muốn sâu xa là luôn luôn phải lưu ý tạo điều kiện cho đối thoại đó bằng cách đừng có những phê phán quá đơn giản và thái độ xua trừ phản Tin mừng.
3. Dấu hiệu thứ ba: đau khổ
Như ta biết, con người thường muốn tìm cho ra một kẻ chịu trách nhiệm về sự đau khổ đang dày vò mình, bởi vì thật khó chấp nhận tính phi lý của sự dữ. Do đó khi chỉ ra được chính mình là người phải trách nhiệm về nỗi đau đớn ấy, đương sự tưởng như đã nhận được hình phạt thích đáng về tội lỗi. Loại phản ứng này có thể thấy trong một đoạn Tin mừng ai cũng biết: câu chuyện người mù bẩm sinh (Ga 9,1-3).Các môn đệ hỏi Đức Giêsu người ấy bị mù vì tội của mình hay của cha mẹ mình. Đức Giêsu đã bác bỏ cách lập phương trình quá dễ dàng như vậy: đau khổ= hậu quả của tội đang phạm. Người cho biết không phải vì đương sự hay cha mẹ anh ta đã phạm tội.
Dầu vậy cũng có nhiều đoạn Kinh thánh hứa hẹn an bình, vui tươi và hạnh phúc cho những ai thực hành các giới luật Tin mừng theo gương Đức Giêsu và ngược lại đe doạ tai hoạ cho những ai chịu làm giàu cách bất chính, những ai bóc lột người khác, những ngôn sứ giả (Lc 6,24). Cũng thế, trong Kinh thánh nhiều đoạn cho thấy giữa tội lỗi và các quyền lực sự dữ hay bệnh tật có liên hệ với nhau. Phải hiểu điều này thế nào? Hãy nhớ lại những gì chúng ta đã trình bày ở các trang trước. Tội là khước từ những gì giúp xây dựng con người một cách thật sự, vì ý định của Thiên Chúa là làm sao cho con người đạt được mức viên mãn, làm con người đứng thẳng, con người thành công, làm nghĩa tử đã được giải cứu. Bởi đó phạm tội luôn luôn là tự làm cho mình bớt là người, là thụt lùi xuống một cấp, có hại cho sự phát triển toàn diện của mình, là tạo ra những tình huống đau đớn trong đó con người sẽ đau đớn cảm nhận những hậu quả của sự vong thân.
Tuy nhiên, để khỏi lầm lẫn, cần phân biệt như các nhà thần học giữa sự dữ phải chịu về mặt thể lý (chẳng hạn như bị mù) và sự dữ về mặt luân lý (tội lỗi). Quả thế, theo thân phận con người là thụ tạo, ai cũng cảm nhận những thất bại, đau khổ, quãng cách giữa dự phóng và đời sống thực tế, và cuối cùng là chết. Những đau khổ loại này (sự dữ phải chịu về mặt thể lý) dĩ nhiên không phải là hậu quả trực tiếp của tội, mà chỉ là hậu quả của thân phận thụ tạo thôi.
Ngược lại, hậu quả của tội chính là những tương quan xấu của con người đối với những đau khổ vừa kể, chẳng hạn biến những đau khổ ấy thành dịp để phản kháng bằng cách gièm pha, phỉ báng hay sống vô thần thay vì lợi dụng đó làm cơ hội để tỏ bày đức tin và lòng khiêm nhượng. Hậu quả của tội còn là những sự dữ khác do cảnh người bóc lột người gây ra. Đó là hình thức tội lỗi trong thế giới ngày nay. Như G. Martelet đã nhận xét chí lý, ‘đó là sự dữ đã xuất hiện một cách có tổ chức và hệ thống nơi cá nhân và xã hội. Đó là sự khốn nạn của con người về mặt tinh thần, đã trở thành một cơ cấu do con người phát minh ra hay tiếp thu được, có quyền lực trên chính chúng ta dù trước đó nó là kết quả từ sự tự do của chúng ta’.
Ta đau đớn cảm nhận cái cơ cấu ấy đã làm khuynh đảo các thực tại. Nhưng lại có thêm một vấn đề đặt ra, khi con người coi cái cơ chế ấy chỉ là sự dữ ‘tự nhiên’, đang khi đó chính là hậu quả của tội lỗi mình, đã xuất hiện trong thế giới. Chẳng hạn, người ta coi một hậu quả xấu mà con người phải chịu trách nhiệm (như tình trạng sức khoẻ của các công nhân bị chủ bóc lột hay tình trạng nghiện rượu trở nên trầm trọng là do các cơ sở sản xuất rượu chạy theo lợi nhuận một cách thiếu lành mạnh) chỉ là ‘kết quả của định mệnh’ hoặc là đặc tính khó hiểu của tự nhiên. Ở đây một lần nữa ta lại thấy bị cám dỗ lẫn lộn giữa hai loại sự dữ: sự dữ phải chịu về mặt thể lý mà hậu quả thân phận con hữu hạn và sự dữ về mặt luân lý hay tội lỗi là hậu quả do con người tự ý muốn bị vong thân hơn.
Như vậy, đau khổ cũng là một dấu hiệu hết sức hàm hồ cho biết có tội hay không. Đôi khi, đó có thể là dấu cho biết tập thể này cá nhân nọ đã phạm tội. Nhưng cũng có lúc đó chỉ là tiếng gọi kêu mời mỗi chúng ta nhìn nhận thân phận con người hữu hạn. Khi tiết lộ các ý định của Thiên Chúa lúc thuận lợi cũng như lúc bất lợi, các ngôn sứ đã gián tiếp giúp ta phân biệt đúng đắn đau khổ - dấu hiệu của tội lỗi và đau khổ - dấu hiệu của thân phận loài người hữu hạn, nơi con người, một ‘hữu-thể-sống-để-chết’ như Heidegger đã nhận xét.
4. Dấu hiệu thứ tư: nội dung khách quan của hành vi
Ở đây tôi muốn nói đến ‘chất thể’ của hành vi như ngày xưa quen gọi. Chất thể hay nội dung khách quan của hành vi là một trong những tiêu chuẩn được Truyền thống Giáo hội dựa vào để xác định mức nặng nhẹ của tội.
Thật chính xác khi coi tầm mức nặng nhẹ khách quan của hành vi là một dấu hiệu hết sức thích đáng cho biết có tội hay không và nặng nhẹ thế nào. Quả thật, nếu đương sự làm một hành vi mà về mặt khách quan rất có sức phá hoại đối với bản thân mình và người khác, đồng thời nhập cuộc vào đó với tất cả tự do, thì hầu chắc người ấy đã phạm tội nặng.
Tuy nhiên, có một vấn đề được đặt ra về việc lượng định tầm mức nặng nhẹ khách quan của hành vi. Thật vậy, sự lượng định của ta thường bị chi phối bởi những ‘chiến thuật’ của vô thức hay bởi áp lực của các ý thức hệ chung quanh. Điều này càng đúng khi đó là hành vi trong lãnh vực tính dục hay có tính gây hấn. Chẳng hạn khi nói trong lãnh vực của đức khiết tịnh không có chất thể nào là nhẹ, tức là bảo rằng trong lãnh vực này, tội nào cũng là tội nặng – ít là về mặt khách quan. Đây đã là quan điểm của Truyền thống Giáo hội trong nhiều thế kỷ.
Thế nhưng nếu phê bình nghiêm túc hơn một chút ta sẽ thấy lý thuyết đạo đức ấy khó lòng đứng vững. Có thật những sự thoả mãn của một thanh niên đối với những hình ảnh tưởng tượng có liên quan đến tính dục hay cả những hành vi thủ dâm của một thiếu niên là những chất thể rất nặng tội? Phải thành thật nhìn nhận ý kiến ấy rất đáng nghi ngờ. Ngược lại, thần học trong nhiều thập niên đã tạo cho người ta có cảm tưởng rằng việc nước này bóc lột nước kia trong chế độ thuộc địa không phải là một tội nặng. Đúng như Đức Giêsu đã nói, luân lý Kitô giáo đã ‘gạn lọc con muỗi nhưng lại nuốt con lạc đà’ (Mt 23,24).
Như vậy, nếu muốn ‘chất thể’ của tội là chỉ dẫn tốt cho ta biết tầm mức của tội, thì trước tiên cần phải nghiên cứu thật sâu xa, có phê bình hẳn hoi về ý kiến ấn định ‘chất thể’ này là nặng hay nhẹ. Muốn thực hiện việc nghiên cứu này cần phải tổng hợp các khám phá chắc chắn của khoa học nhăn văn, các kết quả ổn định của khoa chú giải Kinh thánh và những chuẩn mực bền vững của Truyền thống.
Nếu thế, ngày nay ta có nên xác định lại danh sách các tội nặng ‘về chất thể’, nghĩa là những hành vi khách quan nặng tội, có thể làm hỏng sâu xa sự tự do của con người không? Truyền thống đã không ngần ngại lập một danh sách phân biệt các tội đi ngược lại các nhân đức đối thần và bảy tội đầu mối. Bảng liệt kê ấy đang bị nhiều người hôm nay cười nhạo, và không phải là không có lý: nó biểu lộ một cái nhìn sự vật hoá con người và không dựa trên những phân tích sâu xa về thực tế. Thế nhưng một cái nhìn thần học tồn tại lâu năm trong Truyền thống Giáo hội như thế không thể nào bị gạt bỏ dễ như trở bàn tay được. Nguyên việc nó tồn tại được qua nhiều thế kỷ cũng là dấu cho thấy bảng danh sách ấy đã đụng chạm thật sự được những chân lý căn bản về nhân loại học và thần học. Vì thế, tôi chỉ nghiên cứu sâu xa hơn bảng danh sách các tội ấy và sau đó sẽ đưa ra nhận xét là nói chung bảng ấy rất thích đáng. Trước hết không ai phủ nhận như thế khi tìm hiểu các tội đi ngược lại ba nhân đức đối thần, vì chính Kinh thánh cũng đã coi các tội này là nặng:
Phạm tội đối với đức tin có lẽ là nguồn gốc sâu xa nhất của mọi tội khác, vì rốt cuộc ta đã từ chối tin vào Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa Tạo hoá và Cứu độ; và như thế sớm muộn gì cũng đi tới chỗ thờ ngẫu tượng. Thế mà theo Kinh thánh tội nào cũng là một hình thức thờ ngẫu tượng.
Phạm tội đối với đức cậy là từ chối không chịu tin rằng thế giới, tha nhân và chính bản thân mình vẫn có thể có một tương lại. Là từ chối không chịu tin Thiên Chúa quyền năng có thể hoạt động trong sự yếu đuối của ta và có thể đánh đổ sự ‘khôn ngoan’ của thế gian (1Cr 1).
Phạm tội đối với đức ái là quay về mình một cách thái quá để lo thu góp cho mình thay vì mở lòng với những người đang gặp cơn túng quẫn. Là cho thấy mình chưa tiếp đón Thiên Chúa Tình yêu, Thiên Chúa muốn con người được sống.
Có người sẽ nói: ‘Đồng ý đánh giá các tội lỗi phạm các nhân đức đối thần như thế còn đúng lắm. Thế nhưng các tội đầu mối thì sao? Chúng có ăn nhập gì với cách sống chúng ta ngày hôm nay không? Thưa, hoàn toàn không.’ Có chắc không? Nếu để ý đến nền tảng nhân loại học của bảng danh sách các tội đầu mối, tôi nghĩ ta sẽ có thể nhận ra sự thích đáng của bảng liệt kê ấy. Bây giờ ta hãy xem từng tội một bằng cách tham khảo thêm những nghiên cứu hiện nay của khoa nhân loại học:
Hình thức vong thân chính yếu của con người, theo tôi, là cố tình nuôi dưỡng khát vọng được vạn năng. Hãy nhớ lại những gì đã đề cập khi giới thiệu sơ đồ ‘cái trứng’ ở chương trước. Khai thác khát vọng đó là đã phạm tội kiêu ngạo mà Truyền thống Giáo hội xưa nay luôn luôn coi là tội đầu tiên trong 7 tội đầu mối.
Một hình thức khác của tội, thường thấy hiện nay, là cố tình từ chối những dị biệt, chỉ vì muốn có cái người khác có, bằng cách xoay xở một cách xấu xa như R. Girard gọi là ‘làm bộ như có’. Theo tôi thế là đã pham một tội đầu mối được gọi là tội ghen ghét.
Tội thường xuất hiện nơi chúng ta khi chúng ta lạm dụng bản năng gây hấn của mình. Thật vậy, tất cả những hệ thống suy tư về đạo đức hiện nay đều cho thấy muốn sống đạo đức, trước tiên con người phải làm sao điều hoà bạo lực vì phần lớn những sự dữ trên thế giới đều do ta chấp nhận làm hay chịu những hành vi bạo lực chết người. Cứ theo đã suy tư đó ta sẽ gặp một tội đầu mối khác là tội nóng giận, tội không điều hoà được bản năng gây hấn của mình.
Xã hội chúng ta đã xây dựng trên việc đua nhau săn tìm lợi nhuận và thường sẵn sàng làm hại người khác! Người ta sử dụng sức lao động của con người để người giàu càng giàu hơn và người nghèo càng nghèo hơn. Như vậy có quan hệ không tốt với tiền bạc là một trong những hình thức sinh ra tội lỗi nhiều nhất trong xã hội chúng ta. Truyền thống Giáo hội gọi đó là tội hà tiện.
Chúng ta đang sống trong một xã hội tiêu thụ, một xã hội thường gây cho ta cảm nghĩ rằng chỉ khi nào được thoả mãn no nê mọi thèm khát con người mới cứu được mình và mới được hạnh phúc. Như một số người phản kháng xã hội tiêu thụ một cách gay gắt thường nói: ‘Đó là xã hội của thằng hề chỉ loay hoay quanh cái miệng’. Truyền thống Giáo hội xem ra rất nghi ngờ những quan hệ không tốt có liên quan đến cái miệng và gọi đó là tội mê ăn uống.
Một hình thức tội lỗi khác xoay quanh việc khai thác sự khác nhau trong tính dục, đàn ông tìm cách nô lệ hoá đàn bà, con người thiếu kính trọng thân xác với phái tính. Tội này Truyền thống gọi là mê dâm dục.
Cuối cùng, có một tội mà hiện nay càng ngày ta càng thấy nhiều: đó là để cho tình trạng tâm linh càng ngày càng khô cằn, do những khó khăn trong việc sống đức tin hiện nay, do những khủng hoảng trog việc trung thành với Chúa trước những tấn công của chủ nghĩa vô thần hiện nay, tình trạng khô cằn về tâm linh ấy đã cản trở các Kitô hữu không dám lao sâu vào cuộc chiến bênh vực Thiên Chúa. Truyền thống gọi tội này là khô khan nguội lạnh (lười biếng về tâm linh), tội thứ bảy trong bảy tội đầu mối.
Như thế, trong lịch sử nhân loại cách thế con người từ chối Thiên Chúa không có gì thay đổi lắm. Thần học Kitô giáo xưa nay luôn luôn tìm ra những điểm yếu của con người, những điểm yếu này qua đó tội lỗi đã lọt vào thế gian. Theo tôi, dựa vào bảng danh sách bảy tội đầu mối và những tội chống lại các nhân đức đối thần như vừa trình bày lại, chúng ta có thể tìm ra một số điểm mốc khá chắc chắn để xét mình, dù đứng về mặt sư phạm, theo tôi không nên dùng mấy chữ ‘tội đầu mối’ hay ‘Bảy mối tội đầu’.
5. Dấu hiệu thứ năm: lương tâm cảm thấy cắn rứt hay tâm hồn cảm thấy có tội.
Một trong những dấu hiệu cho biết mình có tội mà các Kitô hữu hay dựa vào là lương tâm cảm thấy cắn rứt hay tâm hồn cảm thấy có tội. Nhiều người tự nhủ: ‘Tôi không cảm thấy lương tâm cắn rứt; đó là dấu chứng tỏ tôi đã không làm điều chi xấu’, hay ngược lại: ‘Tôi cảm thấy day dứt nhiều, nếu vậy, hẳn là tôi đã phạm một tội nặng’. Những suy nghĩ ấy phản ánh cho thấy người ta đã quá đơn giản hoá vấn đề. Vì vậy mỗi Kitô hữu cần phải am tường rõ ràng giữa tội và việc cảm thấy mình có tội có liên hệ với nhau thế nào. Quả thật, cảm thấy mình có tội là một tình cảm thường không cân xứng với tầm mức nặng nhẹ khách quan của các hành vi. Chẳng hạn có những hành vi về mặt khách quan chẳng đáng kể lắm, nhưng về mặt chủ quan lại có kèm theo một mặc cảm tội lỗi rất nặng, ngược lại có những hành vi rất nặng về mặt khách quan, nhưng ta lại chẳng cảm thấy tội lỗi gì. Lý do của những phản ứng đó đã được nêu ra trên đây. Xin nhắc lại: cảm giác tội lỗi diễn ra trước tiên giữa tôi với bản thân mình, còn tội là một thực tại kéo tôi vào quan hệ với một Nhân vật khác, tức là Thiên Chúa. Vì thế, cần cảnh giác hai thái độ này, mà biết đâu ta đang vướng mắc một trong hai, tuỳ theo mỗi lãnh vực của cuộc sống, cả hai thái độ ấy đều sai lầm. Vì khuôn khổ hạn hẹp của bài nói chuyện, tôi chỉ xin lược qua hai thái độ ấy.
A/ Thái độ thứ nhất: Không chịu nhìn nhận mình có tội hay phủ nhận tội lỗi
Đó là trường hợp của Đavít: Sau khi giết tướng Uria và ngủ với vợ ông là Betsêva, Đavít vẫn không chịu nhận ra mình có tội. Đúng như Paul Ricoeur nhận xét, tội thường có khuynh hướng tự giấu giếm và vị kỷ. Ta thường nghe một người đi họp trễ nói: ‘Tôi đến trễ. Tôi muốn giải thích… nhưng vì…’. Ngay trong câu nói này ta đã thấy hai nét chính của tội: vị kỷ (‘Tôi muốn giải thích’) và giấu giếm (‘nhưng vì…’). Đang khi nếu có ý thức tội lỗi thật sự, người sẽ nói: ‘Xin vui lòng miễn thứ cho tôi vì tôi đến trễ’. Đức Giêsu đã từng cương quyết tố giác sự giấu giếm ấy khi nói: ‘Ánh sáng đã đến trong thế gian, nhưng con người thích bóng tối hơn ánh sáng vì các viêc họ làm thì xấu xa. Ai làm điều xấu thì ghét ánh sámg và không đến với ánh sáng, kẻo các việc của mình bị lộ ra’ (Ga 3,19-20).
Tất cả mọi người chúng ta ít niều đều có khuynh hướng tìm cách phủ nhận tội của mình trong một vài lãnh vực của cuộc sống. Có rất nhiều cách để phủ nhận, tôi không thể kể ra hết ở đây. Dầu sao, Mạc khải đã vạch cho ta thấy tính vị kỷ của chúng ta khi tìm cách (tự phát hay cố tình) tránh né trách nhiệm tội lỗi. Mạc khải đã cho thấy tội lỗi có một tầm mức khá nặng; tầm mức ấy được biểu lộ quá nhiều nét:
a) Con người bất lực không thể tự mình rút ra khỏi tội
Đành rằng con người có thể tìm cách che đậy hay quên đi sự bất lực căn bản của mình. Nhưng Mạc khải luôn luôn nhấn mạnh rằng con người như bị tội lỗi nơi mình ’trói chặt’. Chỉ cần nghe lời thánh Phaolô mô tả con người sống dưới sự kềm cặp của tội lỗi: ‘Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét tôi lại làm. Điều tốt tôi muốn thì tôi không làm được, nhưng điều dữ tôi muốn tránh, tôi lại làm’ (Rm 7). Con người bị nô lệ tội lỗi tới mức chỉ mình Đấng Cứu Thế là Thiên Chúa, chỉ mình Đấng Mêsia là Đức Giêsu – Kitô mới có thể ban cho ta khả năng quay về lại với Tạo Hoá.
b) Tội lỗi để lại những hậu quả không thể chữa được, cả Thiên Chúa cũng không thể xoá hết được.
Các giảng viên giáo lý thường phạm một sai lầm cổ điển là trình bày sự tha thứ của Thiên Chúa như một hành vi có sức tái tạo lại trình trạng nguyên vẹn ban đầu đã mất. Thật ra, Thiên Chúa không thể làm cho những hành vi ta đã phạm không có những hậu quả dứt khoát, vĩnh viễn. Nhưng điều Người muốn làm là trả lại cho ta một tương lai mới, dù ta đã phá vỡ tất cả nơi mình, nơi người khác và nơi xã hội.
c) Tội có tầm mức nặng là vì xúc phạm đến chính Thiên Chúa.
Đây là một trong những Mạc khải ở mức cao điểm. Tội của chúng ta không phải chỉ là sự xúc phạm đến những con người, nhưng một cách nào đó là sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Một số nhà thần học hiện nay tiếp tục hướng suy tư của Truyền thống đã chẳng ngần ngại khẳng định rằng, dù vẫn không quên giá trị giới hạn của phương pháp loại suy, ta vẫn có thể nói tội con người gây ra đau khổ cho Thiên Chúa, vì nó vi phạm tới chính kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch có mục tiêu làm sao cho con người phải là người hoàn toàn đứng thẳng trước mặt Chúa.
Như vậy, khi tìm cách không nhìn nhận tội lỗi mình đã phạm, tìm cách trốn tránh trách nhiệm thật, nhưng biết nhìn lên thánh giá Đức Kitô và chăm chú lắng nghe Lời Chúa, tôi sẽ nhớ lại tội luôn luôn đem lại chết chóc cho con người và đau khổ cho Thiên Chúa.
Tuy nhiên, cũng xin lưu ý có khi nhìn nhận tội lỗi lại là tiếp sức thêm cho ước muốn vạn năng của con người. Quả thế, khi biết mình có thể làm Thiên Chúa đau khổ, con người không thấy mình có quyền lực đến thế nào sao? Chính vì thế phải luôn luôn liên kết chủ đề của Truyền thống (‘Thiên Chúa bị tội làm đau khổ’) với chủ đề Kinh thánh (‘Thiên Chúa bất di bất dịch’) ( Ga 5,6; Gr 7,19; Gc 1,17). Chủ đề của Kinh thánh nhắc cho ta nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ bị tội lỗi tiêu diệt, con người phải đánh đổ ảo tưởng – một ảo tưởng nảy sinh mãi nơi con người – rằng quyền lực của mình co thể ngang bằng với quyền lực của Thiên Chúa (Về vấn đề đau khổ của Thiên Chúa, x. F. VARILLON, ‘La souffrance de Dieu’, Le Centurion, 1975, và tài liệu của Uỷ ban thần học quốc tế trong DC 16.1.1983, pp. 125-126).
B/ Thái độ thứ hai: phóng đại tội của mình
Thái độ này chủ yếu là tự khinh rẻ mình, nuôi dưỡng mặc cảm về tội tới mưc đánh giá mình thật thấp, mang tâm trạng hạ nhục và đay nghiến mình. Thế mà các nhà triết học vô thần cũng như các nhà tu đức đều luôn luôn lưu ý thái độ ấy là thái độ tứ ái quá độ. Ai cũng biết lời Nietzsche:’Kẻ nào tự khinh rẻ mình thì sẽ tiếp tục thích thú với sự khinh rẻ ấy’. Hơn nữa, các nhà tu đức không bao giờ ngần ngại yêu cầu các Kitô hữu hãy tự sửa chữa mình một cách dịu dàng, vì mọi hành vi giận dữ quá đáng với mình đều là dấu cho biết đương sự đang tìm kiếm mình thái quá.
Ở đây một lần nữa Mạc khải giúp ta đặt mọi sự đúng vị trí của chúng.
a) Mạc khải nhắc tôi nhớ rằng Thiên Chúa yêu tôi không hề tuỳ thuộc vào sự nhục nhã mà tôi ép mình phải chịu. Thiên Chúa không thích nhìn nhận con người tự hạ nhục mình, tự đánh giá thấp về mình. Ngài chỉ muốn con người khiêm tốn, nghĩa là biết bình tâm nhìn nhận sự thật của mình. Ngoài ra, Thiên Chúa muốn con người đứng thẳng như một người con sẵn sàng chịu trách nhiệm trước mặt Ngài.
b) Mạc khải cho tôi thấy tội lỗi của tôi, nhưng đồng thời cũng cho tôi thấy Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ. Tội lỗi và ơn cứu độ, hai đề tài ấy luôn đi đôi với nhau trong Kinh thánh. Vì thế, như Paul Ricoeur hay nhấn mạnh, người Kitô hữu khôg tin tưởng vào tội lỗi, mà tin tường vào ‘sự tha thứ các tội lỗi’. Bởi thế, đã nhìn vào Thiên Chúa của Kinh thánh thì không thể nào cứ giam mình trong mặc cảm tội lỗi làm hạ giá mình. Ơn tha thứ của Thiên Chúa luôn có đó, lúc nào cũng mở cửa cho tôi đến với Ngài và người khác, kể cả khi tôi cứ muốn giam mình trong nỗi dày vò hối hận.
c) Sau cùng Mạc khải cho biết rằng tôi không cần phải ‘trả nợ’ về những lỗi lầm quá khứ của mình.
Tâm lý học cho biết đôi khi muốn ’đền tội’ (theo nghĩa muốn trả một thứ tiền phạt nào đó cho tội đã phạm) lại gây ra những hậu quả không lành mạnh. Theo Kinh thánh, Thiên Chúa Không đòi hỏi con người đền tội theo lối đó. Thiên Chúa không đòi tôi trả một món tiền phạt, nhưng chỉ đòi tôi sống phù hợp với ơn tha thứ tôi đã được Người ban cho. Thiên Chúa muốn tôi lãnh nhận ơn tha thứ như nhận một nén bạc để sinh lời, một nén bạc sẽ tạo được một niềm vui thật sâu xa.
Như thế, tất cả những gì ta suy tư về tội nay đã kết thúc bằng một suy tư về sự tha thứ của Thiên Chúa. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên vô tình đâu! Thật vậy tha thứ là món quà cao đẹp nhất, hoàn mỹ nhất. Làm Kitô hữu và nhận ra mình là tội nhân, chính là nhận thức rằng ngay chính khi tôi yếu đuối hèn nhát, Chúa đã tặng tôi món quà hoàn mỹ ấy: ‘Từ nay không còn án phạt với những ai sống trog Đức Giêsu – Kitô nữa. Vì luật của Thánh Thần, đem lại sự sống trog Đức Giêsu – Kitô, đã giải thoát ngươi khỏi luật của tội lỗi và chết chóc’ (Rm 8,1-2).
http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=347&ict=3853
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét